New Document
Make your own free website on Tripod.com

Lối Về

Thân tặng những người trẻ tôi may mắn được gặp trên lối về quê hương.

Kính từ

Mặc dù đã suy nghĩ thật kỹ và đắn đo quá mức khi đặt bút viết những giòng này. Tôi vẫn không thoát khỏi cái cố tật của người Việt Nam, cái cố tật đã làm hư hại bao nhiêu cơ may để đưa đất nước thoát ra khỏi cơn dập vùi của những chia cắt chính trị: Sự dùng dằng với cái cũ, tình cảm dây dưa với kỷ niệm...Mà nói như thế nào cho vẹn toàn bây giờ? Chính ông Hà Sĩ Phu khi đã can đảm cắt đứt mình với những dây dưa của "thời đại cũ" để "Chia tay ý thức hệ" vẫn cứ phải quanh co!! Cả đến một người miền Nam "thẳng thắn" như Ông Bảy Trấn khi hồi tỉnh, vẫn cứ phải lượn vòng trong ngòi bút để chỉ " Viết cho Mẹ và Quốc Hội"..Cho dù biết chắc rằng dù có lượn vòng quanh co, ngọn đòn ác độc bỉ ổi của cường quyền vẫn chụp xuống đời mình. Hoặc dù như đã thoát được những đe dọa thô bỉ, sống sượng luôn rình rập khắp bên mình ở trong nước như ông Vũ Thư Hiên, Bùi Tín.v.v vẫn cũng còn nhùng nhằng, quanh co trong vùng hào quang của quá khứ, kỷ niệm, khi phải nhìn lại với "Ðêm giữa ban ngày", với những khuôn "Mặt thật".

Người Việt chúng ta lụi hụi đi từ chế độ phong kiến nhà Nguyễn đến thực dân; lê lết mãi đến chế độ cộng sản và độc tài, để tồn tại trong điều kiện tối thiểu, đã quen quá nhẵn với sự quanh co.. Hầu như chưa bao giờ thể nghiệm được tư thế đứng và nói thẳng... Tôi sẽ cố gắng đứng và nói thẳng dù không khéo sẽ bị cho là ba phải. Tôi không sợ bị quy chụp bất cứ một danh từ phe phái nào. Những danh hiệu bôi bẩn hay vinh danh đều phù phiếm nơi cõi tư duy vĩ tuyệt của con người. Tôi chỉ sợ vì tài hèn sức mọn, trí thiển, mình nói không đến và không hết những điều mà thế hệ của tôi đã bị khước từ một cách thô bỉ và trâng tráo; hay bị tước đoạt một cách ti tiện bởi những nhân danh, tín lý... và bởi những huyễn hoặc của những cây bút, những sử gia, nhân chứng thiếu nhân cách tự trọng. Tôi muốn những thế hệ kế tiếp theo tôi lấy lại được những thuộc tính tối thiểu, căn bản của chính tư duy: thẳng thắn và sòng phẳng với chính mình. Ðể rồi họ sẽ chọn riêng cho họ con đường, cách đi vào dĩ vãng của dân tộc khốn khổ này và tự tin tiến đến tương lai tươi sáng của đất nước.

Như thế, tôi không viết như những hằn học tuôn trào của ức chế, bất mãn; hay thở dài trong đêm đen tuyệt vọng. ..Càng không phải là những gào thét ồn ào làm dáng. Tôi không phải nhà văn và cũng không viết để thành nhà văn. Bởi vì chỉ viết thôi không thể thành nhà văn được; theo ý nghĩa đầy đủ đẹp đẽ và trân trọng của nó, mà người đời kính tặng (dù cách đây gần 20 năm, một số người đã "dám" vội vã mặc áo thụng "vái" tôi là nhà văn chỉ vì tôi ghi chép lại một mẩu chuyện có thật). Cũng như Vũ Huy Cương, tôi xác định "trước khi làm nhà văn, hãy làm con người trước đã"[1]. Tôi viết vì là một bổn phận với chính bản thân, cũng như cắp sách trở lại trường để bào mòn bớt sự ngu dốt của chính mình. Một bổn phận cần thiết trong tiến trình cố gắng làm người. Trước hết, một người Việt nam.

Phần I : Dân tộc rạn nứt

Chủ quan mà nói như một số người chống cộng thì dân tộc Việt Nam không cần hoà giải! Vì sự đối nghịch ở đây là giữa toàn dân bị trị và bọn thiểu số thống trị như ông Vũ huy Cương, theo lời kể của Vũ thư Hiên[2], là bây giờ chỉ còn người Việt và bọn quỷ Việt. Nam. Nam Bắc, Quốc Cộng là nhảm! Ðối với một thiểu số sáng suốt và can đảm thì quả thật chính xác là như thế. Tôi chưa bao giờ được cái vạn hạnh ngàn đời gặp mặt Vũ Huy Cương, dù tôi đã ở Hà Nội cả mấy tháng trời ngay khi ông còn sống, chỉ vì không có "ma" đưa lối, "quỷ" đưa đường; nhưng tôi yêu kính con người chân tình, sáng suốt và quả cảm này quá đỗi. Hãy nghe Vũ Thư Hiên nói về Vũ Huy Cương:

Cần phải nói rõ thêm chuyện Vũ Huy Cương muốn xoá bỏ đảng cộng sản. Cái đó không xuất phát từ lòng căm thù, mặc dầu đảng cộng sản đã gây tội ác với anh. Tôi không cảm thấy sự thù hận ở anh. Anh không có khả năng căm thù. Nhưng anh có khả năng ghét bỏ và khinh bỉ. Anh nghĩ như thế sau khi nghiền ngẫm về những hiện tượng diễn ra quanh mình nhiều năm. Ðó là một kết luận lý tính. Anh hiểu rõ rằng trong việc đảng thẳng tay đàn áp những công dân dám nghĩ khác đảng không hề có sự lầm lẫn nào. Những người bị bắt không phải bị bắt oan, mà do một đường lối nhất quán: bằng mọi giá phải triệt hạ trí tuệ không chịu bó thân dưới quyền lực độc tôn, được xác định một lần cho mãi mãi. Anh khuyến khích các nạn nhân của chế độ làm đơn xin giải oan nhưng bảo họ phải coi đó là biện pháp tố giác tội ác, chứ chớ đặt niềm tin vào sự sáng suốt may ra còn lại chút nào ở những người cầm quyền. Anh nói: " Nếu nó giải oan cho ta, có thể nó còn xin lỗi ta nữa, rồi thì sao? Ngày mai nó lại gây tội ác khác, ở nơi khác, với người khác. Không được, không chơi, phải xoá bỏ gốc rễ, tìm đến cội nguồn của nó mà diệt đi, chỉ có thế mới có cuộc sống yên bình cho nhân dân." [3]

Quả thật nếu cứ vội vã lên án những tờ đơn tố cáo, khiếu nại kêu oan ở trong nước là thiếu triệt để thấu suốt như những nhà "chống Cộng" Việt Kiều hải ngoại mà không hiểu được hoàn cảnh của vấn đề như Vũ Huy Cương trình bày thì tai hại quá. Tôi yêu mến, kính phục Vũ Huy Cương chính vì những tư duy như thế đấy. Tôi yêu mến tấm lòng dàn trải của Ông trong cách nhận định bạn thù với người cùng giòng máu. Khi Ông nói về người bạn cán bộ cao cấp đương quyền của mình : "Nó chưa nghĩ được như tụi mình, nó chưa tỉnh nhưng biết đâu đấy, ngày mai nó sẽ tỉnh thì sao? Bạn vẫn là bạn".[4] Tôi cũng có một vài người bạn tương tự như thế, mà dưới cái nhìn của các vị "vững lập trường chống Cộng", thì tôi đã bị Việt Cộng đầu độc, mua chuộc rồi. Tôi không biết ai khác khi về Việt Nam sống thấy được những gì. Còn tôi tôi thấy được một điều là người Việt Nam khi còn bám được vào đất nước, một cách nào đó tình cảm họ tràn đầy hơn những người đã đi ra ngoài lâu năm, dĩ nhiên kể cả tôi. Và tôi đoán rằng Ông Vũ Huy Cương hành xử như thế vì không muốn dân tộc có thêm những kẻ thù cùng giòng máu với chính mình. Còn một điều "vui" nữa là tôi đã thấy những vị "vững lập trường, hùng hồn chống cộng" họ nhũn như con chi chi, hiền như ...du khách, nghĩa là chỉ biết "rong chơi" không chính trị; và "khiếp" công an còn hơn người địa phương nữa.

Vũ Thư Hiên còn kể rằng Vũ Huy Cương đã khóc khi đọc "Nhà có hoa Anh Ðào" của Tưởng Năng Tiến. Ôi ! Con người cương nghị cứng rắn là thế,, dám đạp bàn chửi Lê Ðức Thọ khi ở trong tù, mà lại quá "yếu lòng" khi "sờ" đến tình tự dân tộc, đất nước như vậy! (Còn tôi đọc xong "Nhà có hoa Anh Ðào" rồi thở dài thườn thượt!!) Ông gửi thư tâm sự với Vũ Thư Hiên :

"Cái tâm của người Việt Nam mình đẹp quá! Tưởng Năng Tiến là một ngòi bút thật sắc sảo. Viết về tình yêu đất nước được như thế là hiếm lắm đấy. Mình có đọc một số bài viết ở hải ngoại. Hình như ở ngoài ấy những người mắc bệnh Quốc-Cộng, bệnh Nam-Bắc, cũng còn khá nhiều, phải không? Làm sao cho họ hiểu rằng ở nước ta bây giờ chỉ có một sự phân biệt thôi: ấy là sự phân biệt giữa người Việt và quỷ Việt. Bệnh Quốc-Cộng, bệnh Nam-Bắc, đều là bệnh tưởng, nhảm nhí hết!."

Tôi là người Việt Nam, tôi ước mơ vấn đề thật đơn giản là vậy! Ðể cả dân tộc, đồng bào anh em tôi cùng đứng về một phía chung sức dồn đảng cộng sản của Hồ chí Minh vào góc tối ô nhục của Việt sử, hay nói như một số người là vứt bỏ nó vào thùng rác của lịch sử. Nhưng thực tế không phải đơn giản như vậy.!! Cay đắng là thế! Mà nan giải cũng là thế... Làm thế nào để mọi người đều thấy ra được như Vũ huy Cương! Thấy được cái nhảm nhí trong sự "Yêu Bác Hồ, kính cụ Diệm" "Miền Nam Tự Do", "Miền Bắc Anh Hùng" v.v... Mà nhìn thẳng vào chính bản thân mình, đồng bào mình một cách trần truồng không áo mão vay mượn, khẩu hiệu đôi bên; để thấy toàn thể dân tộc, đất nước từ ải Nam Quan đến mũi Cà mau chỉ đầy mất mát, tan hoang trong suốt hơn nửa thế kỷ qua. Những mất mát của cả dân tộc không chỉ dừng ở những con số được thế giới sử đo đếm qua những nấm mồ, bãi xương khô, những bé thơ bệnh tật dị dạng vì ảnh hưởng vũ khí hoá học hay những chỉ dấu kinh tế què quặt. Những mất mát không thể đền bù in hằn trong lời ru, trên bàn thờ của từng gia đình, trong tâm khảm của từng con người Việt Nam, qua cung cách cư xử, suy tư đầy những ấn dấu mất mát, soi mòn nhân tính con người Việt, đang trải dài cả mấy thế hệ, qua ánh mắt nụ cười đối với nhau rải khắp chân trời góc biển.

Hãy thử nghĩ xem, người Mỹ đến Việt Nam chiến đấu cho quyền lợi của họ. Họ bắn giết bỏ bom, dùng tất cả những phương tiện hiện đại để tiêu diệt "kẻ thù ý thức hệ" không cùng màu da giòng máu. Họ chỉ thiệt mạng khoảng 58,000 nhân mạng cho cả một cuộc chiến dài đằng đẵng ở bên ngoài đất nước họ, với số tài vật tỉ lệ so ra ở một nước giàu nhất thế gìới không đáng là bao. Thế mà qua bao nhiêu năm nay "hội chứng Việt Nam" (Vietnam syndrome), dù họ có sự giàu có thịnh vượng, hậu quả tàn phá không thường trực trước mắt, trong đời sống hàng ngày, vẫn còn cắn rứt trong cơn mộng của họ. Tấm bia tưởng niệm dầy đặc tên tuổi những người lính Mỹ tử trận giữa phố cờ hoa, vẫn nhắc nhở họ về Việt Nam: Một dĩ vãng tội lỗi hận thù không thể quên được. Trong khi người Việt Nam, phải cầm súng giết nhau. Ðốt nhà, giật cầu của nhau. Nhân mạng có hàng triệu người mất mát. Cha mất con vợ mất chồng, anh mất em.. Và mất cả lẫn nhau! Không có gia đình nào còn toàn vẹn kể về thể chất cũng như tinh thần. Những ấn dấu cụ thể của chiến tranh tương tàn vẫn còn in hằn trên sông núi đất đai với những bãi mìn chưa khai giải; những mảnh đạn đầu bom chưa kịp làm tròn "nhiệm vụ thiêng liêng" của chủ nghĩa vẫn đang rình rập thân xác con người Việt. Những ấn dấu tàn độc nhất vẫn hằn trên thân thể, trong tâm trí con người, trên một đất nước nghèo khó, dưới một chế độ phi nhân vào bậc nhất nhân loại. Thước nào đo được! Con số nào chứng được! Viện nghiên cứu nào trưng bày được!!! Ôi dân tộc tôi hẳn phải là thánh nên ngày hôm nay vẫn lặng lẽ sống và vui cười bắt tay những kẻ đã dội bom, tàn sát đồng bào mình; xưng tụng kẻ bịp bợp, đè đầu cưỡi cổ mình. Nếu không là thánh, dân tộc tôi nhất định phải đang ở một tình trạng ức chế, loạn tâm!

Dân tộc Việt nam đã hơn một thế kỷ bị dập vùi trong những chính sách ngu dân, chia để trị của thực dân và rồi độc tài, gia-đình trị, đảng trị. Mục đích Ðời sống có lúc đã thu bé lại trong hạt gạo, miếng sắn là nỗi ưu tư cao nhất trong cuộc đời, thì sự chia rẽ và rạn nứt là một sự kiện tất nhiên. Lẽ ra không cần bàn cãi!! Cái cần bàn cãi ở đây là làm thế nào để hòa hợp-hóa giải giữa dân tộc với nhau sau những đau thương khốn nạn đó, để cùng nhau phá bứt gông cùm chủ nghĩa, cùng nhau xây lại một Việt nam mới. Tôi không nói bọn cầm quyền. Nhưng sẽ có rất nhiều người không đồng ý và cho rằng dân tộc Việt Nam là một khối không cần hòa giải....

Những ngườ i sống ở miền Nam hầu như không đoạn lìa được cái quá khứ của họ với những chế độ độc tài, quân phiệt, khi đãu tranh cho một nước Việt Nam mới.. Và cũng như vậy rất ít người sống ở miền Bắc đoạn bỏ được sự nhùng nhằng của thời vàng son chống Pháp với Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản.. Theo sự nhận xét của cá nhân tôi, dựa trên những điều tôi đọc được từ chính giòng chữ của họ. Thì có lẽ chỉ có ông Nguyễn Minh Cần và nhà văn Văn Thanh[5], Thế Giang đã thật sự can đảm chặt lìa khúc đuôi lắm khối u và lắm màu sắc kỷ niệm này. Trong "Chuyện nước non" Ông Nguyễn Minh Cần, một cựu đảng viên thuộc loại ưu tú, từng giữ chức vụ phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Hà Nội. Ông theo Kháng Chiến từ ngày rất trẻ. Vào Ðảng cũng rất trẻ và đã yêu mến bác Hồ, người "cha già dân tộc". Ông yêu tất cả những "thứ ấy" vì ông yêu độc lập, yêu kháng chiến, yêu cái cao đẹp, hùng tráng của công cuộc chống ngoại xâm. Nhưng khi nhìn quay lại nhìn dân tộc tả tơi. Ông khẳng định ông có lỗi với đất nước, nhân dân là đã trực tiếp và gián tiếp đóng góp cho đảng CSVN làm bại hoại đất nước dù vẫn luôn luôn hãnh diện về sự tham gia kháng chiến chống thực dân của mình. Ông đã can đảm và sáng suốt tách đảng CSVN, Hồ Chí Minh ra khỏi chính nghĩa Kháng Chiến của đại khối dân tộc[6]. Nhà văn trẻ miền Bắc, Văn Thanh, (phải nói rằng ông thuộc thế hệ trẻ hơn Vũ thư Hiên, chứ không còn "trẻ" như ta tưởng) hiện cư ngụ ỏ California- Mỹ. Khi viết nhận định về "Ðêm Giữa Ban Ngày" của Vũ Thư Hiên :

ẪCho tới bây giờ, ông Vũ Thư Hiên vẫn còn bị hoang mang, cho rằng cái xã hội quái gở ở Việt Nam là do loại người như Lê Duẫn, Lê Ðức Thọ... tạo nó ra như vậy, chứ Chủ Nghĩa Cộng Sản thì không như vậy. Nói như thế hơi khiên cưỡng, độc giả thấy lạ lẫm. Với cái cơ chế của chế độ "Xã Hội Chủ Nghĩa", thì dù không có Lê Duẫn, không có Lê Ðức Thọ, nó vẫn tràn đầy sự bất công, tàn phá đất nước và giống nòi. Những khủng hoảng xã hội ở Việt Nam vào năm 1997 hiện tại đang chứng minh, khi Ðảng Cộng Sản vẫn nắm trọn quyền chi phối đất nước và xương cốt bè lũ Lê Ðức Thọ, Lê Duẫn thì đã mục thối từ lâu. Ðiều kiện lịch sử hôm nay trên khắp Thắ Giới đã (cho phép) chứng tỏ rành rành qua sự kiện toàn bộ các nước Cộng Sản Ðông-Ấu sụp đổ để nhường chỗ cho một thời kỳ xã hội với cơ cấu tổ chức dân chủ mới ra đời. Trang 99 mà tác giả nghĩ về Chủ Nghĩa Cộng Sản đã tỏ ra đuối lý trước thực tế mất rồi, mặc dù tác giả nhận rằng có thể là mình sai. Khốn nỗi, "Có thể sai" và "sai" là hai từ ngữ mang hai nghĩa rất khác nhau..Ữ

Quả thật tôi không biết kinh nghiệm sống, bằng cấp đại học của Văn Thanh bao nhiêu khi so với Vũ Thư Hiên, Bùi Tín; chứ luận cứ của Ông nó không những vững chãi với bằng chứng cụ thể trước mắt mà còn rất đơn giản, gãy gọn, nhẹ nhàng. Nhưng chưa hết đâu! Không biết gia đình giòng họ ông có ăn cái "giải" gì với chế độ, hay có trực tiếp tham gia tiếp cận với "lãnh tụ, cha già dân tộc" hay không? Nhưng Ông đã "giúp" Vũ Thư Hiên gỡ vòng kim-cô quá khứ có "Bác kính yêu" ra khỏi thực tại của dân tộc, đất nước, khi ông rất dí dỏm nhận định và rất "nỡm", cái nỡm đặc biệt của người Bắc, ông tiếp:

Không có người nào có thể đắm đuối nhìn lại ngời tình như lần ban đầu, sau khi đã bị lừa dối và hiểu được sự bẩn thỉu của nó. Sự lộn xộn trong cách tư duy này mâu thuẫn ngay với chính tác giả. Cũng đoạn văn đó, tác giả đã phải thở dài: "Cái xã hội mới ấy hình thành dần, mỗi ngày một rõ nét. Càng ngày nó càng trở nên xa lạ. Càng ngày nó càng giống cái mà chúng tôi vừa chiến đấu để xóa bỏ." Nói ví thử, nếu lịch sử lặp lại, đã biết bọn người "đồng chí ăn cháo đá bátỮ như vậy, toàn gia đình ông Vũ Thư Hiên vẫn đem tính mạng của cả nhà ra để bao đùm họ một lần nữa. Tôi dám chắc, có họa ông Vũ Thư Hiên là Thánh Giăng-Van-Giăng ![7]

Ðấy! Họ là những người già người trẻ sinh ra và lớn lên trong chế độ miền Bắc. Còn lại trong chúng ta không ít thì nhiều đã để cảm tính của kỷ niệm chi phối "quá khứ chân diện mục" của thời đại mình.

Ðọc "Ðêm giữa ban ngày", "Mặt thật", "Khải Hoàn Môn", hay cả như "Chia Tay Ý Thức Hệ" hoặc "Viết cho mẹ và Quốc hội" v.v những người chống cộng dù hả hê với những phê phán, cũng vẫn phải sẽ hằn học những giòng ưu ái quyển sách dành cho Ðảng, Chủ Nghĩa Cộng Sản "chân chính" (Thú thật tôi cũng không mường tượng là giữa CS chân chính và không chân chính khác nhau như thế nào!!! ), ông Hồ Chí Minh và một vài nhân sự cao cấp... Ngược lại những người không "quốc gia" và "quốc gia"cũng sẽ rất hả hê khi đọc Duyên Anh mạt sát nhân sự chế độ miền Nam, đặc biệt là nền Ðệ Nhị Cộng Hòa. Hoặc như N.V.Chức với "Chính sử" nhưng cũng chau mày "cằn nhằn" khi đọc những giòng ưu ái dành cho chế độ và cá nhân Ông Ngô Ðình Diệm.. Ðó là chưa nói đến những "hồi ký" của giới quan chức, tướng lãnh miền Nam. Không ai chịu bỏ quên mình, "kỷ niệm vàng son" một thời của phe nhóm mình sang kho tình cảm riêng tư để nhường chỗ cho những sự thật, hay ít nhất những thống khổ mất mát mà cả dân tộc ở hai miền đã gánh chịu.

Ðấy là chỉ mới nói đến các "nhân vật có một thời vàng son" và văn gia, những người đọc nhiều, biết nhiều và nhất là viết nhiều (có nghĩa là đã "nghe, nhìn" được ý nghĩ của mình nhiều lần) thì như thế.. Nhưng đối với người thường dân hai miền sự việc không còn đơn thuần là "bút chiến" nữa! Nó thể hiện cụ thể qua lời nói, sự cư xử thường ngày. Nếu ta không kể những xung đột chém giết nhau vào những dịp 30 tháng-4 ở những trại tị nạn Hồng Kông, dù theo một số thuyền nhân từng tạm cư ở đây, thì phần nhiều là nguyên nhân từ những băng đảng trộm cướp, nơi có những "thuyền nhân" của cả hai miền chung sống. Song giới "tranh đấu" vẫn cứ lấy lý cớ "chính trị quốc cộng" để miệt thị nhau, đổ lỗi cho nhau. Nhưng sự căng thẳng Nam, Bắc không phải là không có.

Người sống ở miền Nam nào đã từng nói chuyện "chính trị "với những người dân miền Bắc chắc chắn đã nhận được những "sửng cồ" của họ khi đề cập đến Ðảng, đến Bác "kính yêu" với vài giọt nước mắt xin lỗi sau mấy trăm ngàn nạn nhân, gia đình tiêu tán của chính sách cải cách ruộng đất, đấu tố. Người ta kể lại như là một hành động"nhân từ sáng suốt của Bác"... Và người miền Bắc nào đã từng "thảo luận" chính trị với người miền Nam "quốc gia" chắc chắn đã nhận được những nắm đấm, hay những lời sỉ vả nếu may mắn, khi đề cập đến cụ Diệm "anh minh nhân từ" hay "quân lực VNCH bách chiến bách thắng"(dù đã lọt xuống biển tứ tán khắp nơi!), hoặc những vi phạm nhân quyền, hành động phi luật, bất pháp đuợc kể lại hể hả như là "đúng" và "phải" như chuyện ông tướng cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan, rút P38 bắn nghi phạm ngay giữa thủ đô Sài Gòn, trước ống kính của ký giả báo chí...

Tất cả có biết đâu rằng những câu chuyện như thế chỉ phản ảnh sự lạc hậu mọi rợ của chế độ, tính phi nhân bản của xã hội.

-Tôi còn nhớ khi về sống ở Hà Nội, tôi có cô bạn gái trẻ tuổi. Ðang lúc âu yếm nhau tôi đùa rằng : Anh đâu phải Hồ Chí Minh mà phải dấm dúi tình yêu của em với mọi người". Thế là Cô ta vùng vằng, "sửng cồ" với tôi : " Sao Anh lại dám chống Bác Hồ??". Dù bản thân Cô và gia đình không có hưởng ân lộc gì với chế độ như Ông Bùi Tín hơạc Vũ Thư Hiên. Mà còn ngược lại nữa kìa.. Cô sống thiếu thốn phải bán tiếp thị giải khát cho quán bún chả..!!!.

Buổi tối chúng tôi hay đi ăn khuya. Một hôm nửa đêm đói quá chúng tôi và một hai sinh viên thuê cùng nhà đi ra cái quán vỉa hè gần ngõ. Ngồi chưa nóng đít, bỗng bà chủ hốt hoảng bưng nồi chạy.. Mọi người tự động tay ghế, tay bát đứng dậy luồn vào hẻm. Tôi chẳng hiểu chuyện gì cũng làm theo. Ba phút sau cô bé sinh viên níu tay tôi : Xong rồi chú ạ! Và mọi người cùng tỉnh bơ tay bát, tay ghế trở lại "quán" ngồi. Kẻ tiếp tục ăn, người tiếp tục gọi bún. Bà chủ quán buông một câu bâng quơ : "Tổ bố chúng nó lại đi kiếm tiền khuya đấy!" Tôi còn chưa hết ngơ ngác thì cô bé sinh viên cườ i "Công An đi dẹp hàng quán đấy chú ạ!".. Tôi "bộp chộp" phán : Ðảng bỏ đói họ thì họ phải hành dân chứ! No như bí thư thì đã ngủ ở nhà với vợ con!" Cả quán quay nhìn tôi: "Ơ cái bác này hay nhẩy, chính sách Ðảng đâu ra đấy lắm. Tại mấy ông thừa hành làm sai đấy thôi! Về đến nhà cô bé sinh viên và mấy cậu khác "hạch" khéo tôi: " Sao chú ghét Việt Nam và người Việt vậy???Ữ Và tôi đã phải bao một chầu café ngày hôm sau cho mọi người chỉ để giải thích cho các cô cậu rằng đừng nhập đất nước, nhân dân vào cùng một thể với chế độ cầm quyền, rằng tôi khinh cái chế độ chứ không khinh đất nước và nhân dân Việt Nam. Tôi khinh chế độ Cộng Hòa miền Nam nhưng yêu cách sống của con người miền Nam v.v Nhìn vẻ mặt Tôi biết các cô cậu vẫn ấm ức nhưng vì là "thầy trò" nên không "sửng cồ" được.

Hôm 28 Tết các cháu sinh viên mời tôi đến nhà ăn tất niên. Phụ huynh là một cán bộ chuyên ngành thuộc thành phố. Buổi tất niên rất vui và ấm cúng tình gia đình. Nói cười rất "cởi mở". Nhưng vì đã có kinh nghiệm tôi cố gắng né tránh cơ hội "đánh chính trị trực diện" nên tôi chỉ nêu những đề tài văn học, âm nhạc, chuyên môn mà thôi, hơn nữa lại là khách, dù bị "khiêu khích" vài lần. Trong lúc đang vui nói về những cái hay trong cách cư xử của Việt Nam và người Tây, phải nói Ông chủ nhà rất dễ thương và tình cảm, một cậu sinh viên được tiếng là bản lãnh và là "trưởng tràng" của nhóm nhìn tôi vui vẻ, chỉ về phía chủ nhà, hỏi rất chân tình: " Ðấy chú thấy con người Cộng sản Việt Nam dễ thương không?". Tôi trả lời vui vẻ nhưng rất nghiêm chỉnh: " Không có con ngườ i Cộng sản Việt Nam hay Quốc gia Việt Nam, chỉ có con người Việt Nam hay không Việt nam mà thôi! Cái dễ thương mà chúng mình có ở đây là do đạo lý Việt bản chất Việt chứ không phải là thuộc tính của "quốc gia" hay "cộng sản". Rồi tôi cười to: " Ðưá nào chửi Nguyễn Văn Thiệu và Ngô Ðình Diệm đi, chú chửi ké với. mà chú bảo đảm chửi hay, chửi sát, chửi đúng hơn tụi mày đấy!" để phá tan sự "căng thẳng" bất ngờ...

Một buổi tối sau Tết khi đã về Hà Nội, chú cháu tôi gặp lại nhau sau một ngày mệt mỏi. Ngồi trong căn nhà nhỏ bé, trời đã khuya. Chúng tôi pha trà Thái Nguyên, hút thuốc. Các cháu đem hết thắc mắc này, chất vấn nọ hỏi tôi. Một trong những chất vấn quan trọng là giả sử Ðảng CS thôi độc quyền để cho mọi người tự do lập đảng để tranh cử thì sẽ có nội chiến. Vì tụi Việt Kiều diễn biến hòa bình sẽ về tranh giành v.v.. Tôi đã phải thở dài để nén bùng cơn thịnh nộ và chậm rãi giải thích thế nào là nội chiến, thế nào là tranh cử và nhất là thế nào là Diễn Biến Hoà Bình với tất cả những tiện lợi, tốt đẹp, dân chủ bao hàm trong ý nghĩa của Diễn Biến của Hòa bình đối nghịch với Ngưng Trệ và Bạo Loạn... Còn Việt Kiều ư? Họ là những người ngoại quốc gốc Việt! Họ không thể tự tiện trở về đất nước mà tranh cử nếu không được phép của chính quyền.. Họ không có đủ pháp lý thì lo gì!!Vị tất còn mấy ai muốn trở về sống trên quê hương nữa?!! Tôi không thể nhớ hết. Nhưng những ánh mắt chân tình ngỡ ngàng của các sinh viên thì không bao giờ tôi quên được. Nó ám ảnh tôi từ lúc ấy cho đến khi ngồi viết những giòng này..Và tôi cũng là một Việt Kiều. Một người Việt Nam đã rời bỏ đất nước ra đi. Dù cách nào, thế nào tôi cũng đã bỏ mất một phần trách nhiệm, quyền hạn căn bản đối với đất nước dân tộc. Ít nhất là trên phương diện pháp lý.

Mà nào có phải một mình tôi bị "hạch hỏi" chất vấn như thế đâu! Ông Nguyễn Minh Cần trong "chuyện nước non" cũng có kể một chuyện với câu hỏi và nỗi "ưu tư" như thế ! Ông cho rằng ý nghĩ này là do "nhà cầm quyền mớm cho". Nhà cầm quyền "vừa mớm cho" mà cũng không ít người "ngoài Bắc" nghĩ như thế! Vấn đề là nó thể hiện cái quan niệm ấu trĩ ngây ngô rằng, đối với người miền Bắc, dù sao căn bản người Cộng Sản là tốt! Nhưng không phải người Cộng sản nào cũng tốt. Trong khi căn bản "Ngụy quân, Ngụy dân" là xấu! Nhưng không phải ngụy dân, ngụy quân nào cũng xấu!

Cùng một lối, một cơ sở nhận định đồng hóa đơn giản như vậy. Người miền Nam đều nghĩ rằng căn bản người Việt Cộng, dân sống với Việt Cộng là xấu! Nhưng không phải Việt Cộng nào cũng xấu!

Thành tích tin cậy của "người Cộng Sản, người đất Bắc" phải là ở tù Tây, tù Ngụy, chống Pháp, chống Mỹ! Thành tích tin cậy của người Quốc gia phải là gốc lính, công chức, từng tù cải tạo! Nhân dân Việt Nam đứng ở đâu? Ðồng bào tôi những người không quân nhân, đảng viên ,công chức. Không tù đày nhưng bị giam hãm bởi những song tù của thể chế chính trị cả nửa thế kỷ nay! Nhà tù cho cả dân tộc, đứng ở đâu?

Với riêng cá nhân tôi nhận xét, cũng như tôi đã giải thích cho các cháu Sinh Viên của tôi: Không có người con người Cộng Sản tốt hay xấu, cũng không có con người Quốc Gia tốt hay xấu. Vì Cộng Sản hay Quốc Gia không phải là tính từ chỉ phẩm chất nhất định! Nó chỉ là những phân định chính trị ngắn hạn! Nói văn chương hơn. Nó chỉ là những cái áo đồng phục khoác vào để đi công tác. Về nhà cởi ra, trần truồng mới thấy chỉ còn là con người Việt Nam. Xấu hay tốt nó nằm trên da thịt, trong máu, trong óc từng con người!

Nghĩ tới những người dày kinh nghiệm, hiểu biết cao như Vũ Thư Hiên, Bảy Trấn, Trần Quốc Vượng, Bùi Tín, Nguyễn Văn Chức, Cao Văn Luận v.v mà còn như thế! Tôi thương các cháu sinh viên quá! Có đấng đàn anh, đàn chú nào dám nói thật cho chúng biết dĩ vãng chì đen mạ vàng của mình bao giờ!

Chế độ đã sửa cả chữ nghĩa để mớm vào trong đầu óc người dân những cụm từ như "diễn biến hòa bình", "nội chiến". Biến những từ ngữ này thành những bóng ma lởn vởn đe dọa hiện tại "đổi mới". Rồi người ta đã dùng nó như những lý cớ chính đáng hùng hồn nhất để chạy trốn hiện tại rách nát của đất nước; để chất vấn, hạch hỏi nhau khi có ai dám đòi hỏi làm người.

-Thái độ của Việt Kiều tị nạn đối với những người không Cộng sản, không "quốc gia" và những người ra đi từ đất Bắc.. cũng không khác mấy. Tự động, mặc nhiên người ra đi từ miền Nam coi những người ra đi từ miền Bắc là Việt Cộng. Họ đồng hóa người dân với chế độ. Họ có những cụm từ như " bọn Bắc Kỳ 75", "Bắc nón cối" v.v khi nói về đồng bào miền Bắc của mình. Nếu giáp mặt là họ khởi đầu "cà khịa", nói móc, nói máy v.v nhiều lúc rất trẻ con và ngây ngô..!! Vô hình chung họ dồn những người ra đi từ miền Bắc vào thế đối lập với họ.. Hiện nay sau một thời gian dài cùng khổ, cùng ly hương, cùng chịu những đố kỵ từ người bản xứ, nhất là sau chiêu bài đổi mới và sự mỏ cửa, bỏ cấm vận; hai miền và người hai bên trong cũng như ngoài có điều kiện giao lưu.. Cái nhìn về nhau đã bớt gay gắt. Ít nhất là ở một số ngườ i "đối kháng". Nhưng sự đối nghịch, ngộ nhận" vẫn còn cao ở nhiều người, nếu không bi quan để nói rằng rất nhiều....

Ngày hôm nay, ở đâu đó bên ngoài đất nước Việt Nam, có những người hàng năm hội nhau lại tưởng niệm vinh danh Ngô Ðình Diệm và chế độ của ông. Có người còn gọi ông là anh hùng dân tộc. Mặc dù bố con ông từng làm tay sai cho thực dân Pháp, từng truy lùng bắt bớ đồng bào kháng chiến chống Pháp. Ngô Ðình Khả, bố ông Diệm từng cùng Nguyễn Thân theo lệnh Pháp đào mả gia tiên cụ Phan Ðình Phùng và đi "tiễu trừ" kháng chiến Vụ Quang của cụ Phan. Họ đa số là những người gián tiếp hay trực tiếp hưởng ơn mưa móc của gia đình nhà Ngô. Họ có cái "lý riêng, tình riêng" của họ, khó có ai có thể trương chứng cớ thuyết phục, dẫu chứng cớ và lịch sử còn ghi lại rành rành. Khi họ tưởng niệm Ngô Ðình Dìệm và chế độ nhà Ngô, họ bất chấp những ký ức đau khổ của bao nhiêu thân nhân gia đình của những nạn nhân nhà Ngô trong 9 năm độc tài, đàn áp tôn giáo, bôi nhọ, đàn áp, thủ tiêu đối kháng. Nếu chúng ta ở ngoài này, nhân danh "quốc gia, chống cộng" mà chấp nhận những việc "chướng tai gai mắt" như thế; thì ở cùng góc độ chúng ta cũng phải chấp nhận những người có "ân nghĩa, ăn lộc" của Hồ Chí Minh, ngày hôm nay vẫn còn tôn vinh ông Hồ một cách chân thành như Trần Quốc Vượng, Vũ thư Hiên, Bùi Tín v.v. dù lịch sử bằng chứng bán nước, cũng đã rành rành: Chiêu bài chống thực dân giành độc lập tự do chỉ là phương tiện cho Hồ thiết lập quyền lực theo mô hình Cộng Sản của Lénin mà Hồ tôn thờ từ khi có ý thức chính trị trên đất Pháp. Những người này cũng bất chấp những ký ức, tình cảm đau khổ của những gia đình bị Hồ Chí Minh thanh toán, hãm hại từ thời kháng chiến, cải cách ruộng đất, cho đến bây giờ.. Và hơn hết, hai bên đã bất chấp những đau khổ, mất mát của cả dân tộc Việt Nam.

Nhưng nói cho cùng ra, nếu con người Việt Nam thực sự tôn trọng dân chủ, tự do tư duy, ngôn luận ý kiến, thì ai tưởng niệm ghi công ai cũng là phần nhân quyền, ngôn luận tư duy của họ cần phải được tôn trọng... Nếu họ đủ chứng cớ, luận cứ thì họ thuyết phục được quần chúng, còn không quần chúng sẽ bỏ họ, vì họ vẫn chỉ là một nhóm thiểu số. Nhưng họ vẫn phải được quyền nói lên ý nghĩ, tình cảm của họ dẫu sai hay đúng..

Chỉ khi nào người Việt nam cảm thấy an toàn khi tự do khen ngợi, lên án Hồ Chí Minh, Ngô Ðình Diệm hay bấy cứ ai mà không bị đe dọa, hành hung tù tội. Thì khi ấy người Việt Nam xã hội Việt nam mới thật sự có tự do dân chủ.

Những sự kiện như trên cho thấy nhu cầu hòa giải giữa người dân với nhau. Những người dân bình thường vì đã sống gần hết kiếp với những tên ăn cắp lòng tin, bọn cướp hy vọng, họ mệt mỏi và trước mắt họ đầy những phập phòng ngờ vực sinh ra cố chấp, là rất cấp thiết..

Dĩ nhiên sẽ vẫn còn nhiều người không đồng ý. Họ sẽ cố cãi chầy cãi cối rằng họ chân chính vì dân tộc, họ không có lỗi lầm gì cả. Chỉ có bên kia, đối lập với họ cần phải sám hối. Vâng! các người cứ nói, cứ cãi đi. Tuổi trẻ hôm nay có đầy đủ khả năng và điều kiện, sách vở tài liệu để nhìn lại quá khứ của các người. Không ai che giấu được những nhơ bẩn của ai nữa.

Ðảng phái quốc gia, đảng phái cộng sản, một mặt đấu tranh với thực dân, một mặt tranh giành ảnh hưởng quyền bính với đầy đủ những thủ đoạn ám toán lẫn nhau. Họ tô son quét phấn, che đậy giấu diếm phe mình; bôi bẩn, ngụy chứng đối phương để nắm quyền nhiều hơn và lâu hơn..Họ có nghĩ gì đến nhân dân không? Nếu có thì chỉ có ở trong những văn từ, cương lĩnh. Thiệt thời gánh chịu là những tấm lòng nhiệt tâm với dân tộc đất nước. Những con người yêu nước nhiệt thành đi theo lãnh tụ, chí sĩ, chỉ vì muốn đánh đuổi thực dân. Họ cấp bách chỉ muốn giành độc lập cho đất nước nên không có đủ thời gian để nghiền ngẫm chọn lựa. Tình hình đất nước căng thẳng loạn lạc, tiện nơi nào tham gia tổ chức nơi ấy. Gặp ai trước, tiếp xúc ai trước thì tay nải tay bị thẳng bước đi theo. Vì trước mắt là thực dân cướp nước, chung quanh là đồng bào đầy đọa khổ đau. Những tấm lòng trong sáng đẹp đẽ như trăng rằm, hực lửa như mặt trời, đã hàng hàng lớp lớp ra đi như một "nhà viết hóm hỉnh" đã nhìn về thế hệ cha mình.." Vào lúc mà chuyện đánh đuổi thực dân còn là điều làm say lòng cả một thế hệ người"[8]. Mà có thời nào người Việt nam lại không say lòng đánh đuổi ngoại xâm cơ chứ?

Ôi cái say lòng đã trở thành khổ lụy cho cả mấy thệ hệ theo sau. Người ta đã say lòng đến không còn thấy ra được những thủ thuật mưu toan ẩn tàng nhơ bẩn của lãnh tụ, chí sĩ. Mục tiêu đánh đuổi thực dân, kiến tạo tự do dân chủ đã bị biến dạng để trở thành "thành trì chống thế gìới đế quốc tư bản xâm lược, tiền đồn chống chủ nghĩa cộng sản xâm lăng" bởi các lãnh tụ khả kính, chí sĩ anh minh. Thực chất chỉ là những tên bệnh hoạn nghiện ngập quyền bính, tay sai ngoại bang mà vi khuẩn quyền bính, gia trưởng của phong kiến, thực dân vẫn nhoi nhúc trong máu, trong não của họ. Những tên buôn bán chủ nghĩa đã nhân danh danh những lý tưởng cao đẹp để cướp đoạt ước vọng căn bản và chính đáng nhất mà "cả một thế hệ đã say lòng đến nỗi bỏ cả gia đình, bản thânỮ: Ðộc lập tự do, dân chủ! Họ say lòng đến độ không kịp nhận ra một điều đơn giản, thật đơn giản: Những ý niệm Ðộc Lập Tự còn Do Dân Chủ không thể thành hình trong những bộ óc tay sai, nghiện ngập quyền bính, quan liêu gia trưởng với những danh xưng Bác, Cụ.. Mấy ai trong họ có đủ sáng suốt và can đảm đặt vấn đề với các lãnh tụ, chí sĩ rằng: Ðộc Lập, Tự Do, Dân Chủ đã lấy lại từ tay thực dân Pháp đâu rồi? Hãy đưa ra đây! Trả lại cho nhân dân! Nói cho công bằng thì có chứ! Có một số ít nhìn ra và đòi hỏi nhưng không còn đủ phương tiện và năng lực vận động quần chúng hậu thuẫn nên đã bị nghiền nát như Cụ Phan Khôi và Nhân Văn giai phẩm; như Nhất Linh và những người phật giáo trong Nam.. Kẻ thù Thực dân không giết được họ mà chính lãnh tụ, đồng chí chà đạp quyền con người của họ bằng những thủ đoạn đê hèn và dã man hơn cả kẻ thù thực dân. Bây giờ mọi chuyện đã sáng tỏ. Nhưng những tên tay sai vẫn tiếp tục bào chữa cho lãnh tụ và chí sĩ bằng những luận điệu Bác Hồ, Cụ Diệm đâu có chủ trương thế, chỉ là đám thuộc cấp thừa hành!

Giời ạ! Hàng vạn người bị đày đọa tru diệt, săn đuổi như những con chó kéo dài cả hàng năm trời mà lãnh tụ, chí sĩ không biết, không ngăn ư?!!. Vậy hiến pháp, luật pháp đâu? Cơ chế tổ chức quốc gia hay là bộ lạc vậy? Dân chủ pháp trị hay phong kiến, băng đảng vậy? Ðã hết đâu, chúng còn trơ trẽn kể ra những công đức nhân từ, sáng suốt, anh minh của lãnh tụ và chí sĩ nữa cơ! Cụ Diệm rất nhân từ. Khi những cựu đảng viên Ðại Việt bị truy lùng bắt bớ vì đòi dân chủ, tự do. Có người "xin" với Cụ rằng Cụ từng ăn cơm thăm nuôi của đảng viên Ðại việt. Và Cụ bèn tha vì "Ối dào, người của mình cả đấy mà"![9] Bắt tha tuỳ tình cảm lãnh tụ. Còn Cụ Hồ thì rất anh minh. Có một tên côn đồ trong cấp chỉ huy, chửi tục, Bùi Công Trừng gì đó, đánh lính như đánh con ở. Cụ Hồ biết được nhân cơ hội thăm đơn vị bèn tát cho tên côn đồ một cái như cha tát con và lý luận rằng tôi là chủ tịch nước, Bác tát chú, mà chú tức lên như thế, thì giữa chú và thuộc cấp không cách biệt nhau bao nhiêu mà chú đánh người ta, người ta đã uất như thế nào?[10]

Ðại loại những giai thoại thô bỉ, tác phong thổ phỉ như vậy mà họ, những người có ăn học kể lại một cách say sưa thần phục cơ chứ! Thử hỏi một quốc gia mà có kỷ cương, pháp luật, thì dù có là "người của ta" hay không thì cứ theo pháp luật, cái đúng mà làm. Có tội, lãnh tụ có thương, tòa vẫn xử,. Không có tội, lãnh tụ có ghét vẫn không bị bắt. Sĩ quan không được quyền đánh lính, quân đội có quân phong quân kỷ, quân luật và luật của quốc gia nữa. Cứ thế mà xử. Cần gì tới chủ tịch nước. Mà Chủ tịch nước lại tát tai sĩ quan thì cũng vi phạm luật nhân quyền quốc gia mới đúng chứ. Cứ lấy cái đúng mà xử mới là lãnh đạo anh minh, chế độ pháp trị chứ! Những "giai thoại anh minh nhân từ" đấy, nghe cứ như chuyện Ðông Chu liệt quốc!!! Với những ông hoàng, ông vương, bà chúa bắt, giết, hay tha tùy sở thích, yêu ghét! Hay phim tập xã hội đen, mafia. Nó chỉ chứng tỏ lãnh tụ thấp kém hành xử như những tên quan lại phong kiến, chúa đảng thổ phỉ. Nó chỉ thể hiện cái vô pháp chế, phi luật lệ của con người, chế độ và xã hội lạc hậu mà thôi.. Giết hàng trăm ngàn người thì lãnh tụ không biết, không có trách nhiệm! Tru diệt những người có công với đất nước từng nuôi lãnh tụ trong nhà, Bác anh minh cũng không biết! Nhưng chỉ một thằng côn đồ đánh lính thuộc cấp, thì Bác biết và đến tận nơi giải quyết!!! Ôi thế mà vẫn có người nghe xong rồi hể hả, tâm đắc, mới buồn làm sao! mới xót xa làm sao chứ...

Những người còn lại tiếp tục bị lừa phỉnh, rồi quên bẵng đi, để nhẫn nhịn chịu đựng và lại "say lòng" với "trách nhiệm" mới được lãnh tụ và chí sĩ giao phó: Chống tư bản xâm lược, giải phóng nhân loại, chống chủ nghĩa cộng sản toàn cầu...Và họ quên mất kẻ thù bá quyền, đô hộ cũ hôm nào, tay chúng vẫn còn vấy máu cha mẹ anh em.. ôm chầm lấy tôn thờ gọi Ðồng chí Anh Em, gọi Ðồng Minh thân cận..

Thế là điều khốn nạn nhất cho dân tộc Việt nam đã xẩy ra: Cả một thế hệ tiếp nối, thay vì đã được an hưởng trong độc lập tự do dân chủ dành lại được từ tay thực dân, đế quốc, bằng máu, nước mắt và trí tuệ của thế hệ cha mẹ ,anh chị đã nằm xuống; được hân hạnh say lòng vắt tim, nặn óc xây đựng kiến tạo tiến bộ văn minh cho đất nước; lại phải bước vào trận địa huynh đệ tương tàn, ngập máu và hận thù. Cả một thế hệ anh em đồng bào thẳng tay cắt cổ nhau, chửi nhau. Trịnh Công Sơn chắc phải đau khổ lắm khi ước mơ "khi đất nước tôi không còn giết nhau, Mẹ già lên núi tìm xương con mình"!!! Ôi có hy vọng nào cay đắng hơn hy vọng hoà bình của Mẹ Việt Nam! Một thế hệ say sưa viện dẫn, khoe nhau những đẹp đẽ thành tựu của nước Ðồng minh, của nước Ðồng chí Anh Em, để chính đáng hoá vai trò làm tay sai của mình trên chính quê hương của mình; và để miệt thị lẫn nhau, mà không thấy được "hai đứa mình" đều rách nát tả tơi. Họ sẵn sàng nhận lãnh những cái tát, cái đạp của Ðồng Minh, của Ðồng Chí, để đổi lấy phương tiện, vũ khí, hoặc rủ luôn nó vào để "thanh toán" anh em cùng giòng máu tổ tiên!!! ... Anh em "mỗi bên tơi tả, mười phân rã mười."

Ðã hết đâu, khi chiến tranh tương tàn chấm dứt, họ sẵn sàng quỳ gối tung hô, tưởng niệm đồng minh, đồng chí nước anh em. Tri ân những "chiến sĩ ưu tú" đã bỏ mình cho lý tưởng "chống cộng", những hồng quân chống "chủ nghĩa đế quốc tư bản"! Viết những trang sách hùng hồn bào chữa, bảo vệ danh dự, xiển dương lý tưởng cao cả của "đồng minh, đồng chí"! Nhưng chưa bao giờ đủ thành tâm nhìn lại những nấm mồ của đồng bào ruột thịt đã nằm xuống vì quê hương dân tộc này..chỉ vì "lỡ" ở bên kia chiến tuyến vì điều kiện địa dư. Họ trơ trẽn ôm hôn, bắt tay hợp tác tiếp đón những người đã từng giết hại đồng bào họ; mà đối với anh em cùng giòng máu thì không có một chút khoan nhượng... Họ gân cổ, phùng mang trợn mắt chối bỏ những tội ác mà những "tên đồng chí anh em, đồng minh tự do" đã gây ra trên đất nước họ, trên xác thân đồng bào họ, dù chính các "đồng minh, đồng chí" đã giải mật hồ sơ xác nhận lỗi lầm! Có danh từ y khoa nào nói được cái chứng bệnh quái dị của não trạng những con người này không?

Bác Hồ anh minh đấy! Cụ Diệm nhân đức đấy! Miền Bắc Anh hùng đấy! Miền Nam Tự Do đấy.. Những mỹ từ này làm sao che được hiện trạng của nhân dân, của đất nước!

Ôi bao máu xương, tâm trí cho : Ðộc Lập, Tự Do, Dân Chủ ..Tất cả cho đến nay vẫn xa vời vợi.. Hiện trạng đất nước đã rành rành trong bấy nhiêu năm. Nhưng anh chị em hai bên, những tấm lòng rực lửa vì quê hương đất nước, dù cùng nhìn nhận hiện trạng mạt cùng của đất nước, thế nhưng vẫn không thể đủ trí tuệ và thành tín để cách ly được những chủ đích nhơ nhớp, ti tiện của lãnh tụ, của chí sĩ nhân danh, ra khỏi viên ngọc tinh khiết sáng chói kháng chiến của dân tộc dũng cảm yêu nước.. Và thế là cả một thế hệ vẫn bằng mặt với nhau về hiện trạng đất nước nhưng nhất định không bằng lòng với nhau khi nhìn về quá khứ nguyên nhân.

Montesquieu đã lập luận một cách chính xác trong "Vạn pháp tinh lý" rằng "bất cứ ai nắm quyền hành đều có khuynh hướng lạm dụng và họ cứ xử dụng quyền cho đến khi gặp giới hạn.." Phải nói rằng những giới hạn mà họ không thể vượt qua được nữa mới thôi..

Và điều đơn giản là cả hai miền Nam Bắc đã không có thể chế dân chủ và cơ chế pháp trị để ngăn cản và kềm hãm lạm dụng quyền bính của giới cầm quyền từ sau khi thực dân Pháp ra đi. Hậu qủa là trên khắp đất nước chưa từng có chính quyền từ dân, do dân và vì dân. Chỉ rặt một lũ Ðộc tài, quân phiệt, gia đình trị, đảng trị với đầy đủ những "đức tính" của phong kiến, của đảng cướp, thổ phỉ mafia...

Ðau khổ thế đấy đất nước tôi, đồng bào tôi! Họ đã bị những thủ đoạn ăn trộm, cưóp giựt hết tất cả những ước vọng con người sau khi đã đổ hết tâm lực, sinh mạng, giựt lại từ tay những tên thực dân ngoan cố của thế kỷ hai mươi... Cho đến hôm nay, không một đưá nào sám hỗi nhận lỗi. Chúng đổ lỗi cho nhau. Những tên ăn cắp, ăn cướp lên mặt mắng chửi nhau với những lời đạo đức ái quốc yêu dân..

Ðứa mất quyền bỏ chạy rêu rao theo kiểu bỏ chạy. Bám víu ngoại bang, chúng nó tụ hội lại với nhau độc quyền chống cộng. Sãn sàng hạ thủ bất cứ ai dám nói và làm khác chúng. Chúng lộ rõ mặt tay sai ngay trên đất của chủ. Chúng rêu rao chính nghĩa chạy làng và hèn hạ tán dương công đức của những tên thực dân kiểu mới, buôn bán nhân quyền, những tên đã từng đổ hàng tấn bom lên đầu người Việt, đất nước Việt, với những tấn bom Napalm, thuốc độc khai quang. Những tên xâm lược tàn sát người già trẻ thơ Việt Nam như những trò thể thao giải trí. Không ! Tôi không lên án bừa bãi đâu! Ðây là lời khai của những "chiến sĩ đồng minh bảo vệ tự do" trong phiên tòa xử vụ án Mỹ Lai, Sơn Tịnh Quảng Ngãi đấy![11]

Ðứa đoạt được quyền tiếp tục cưỡi cổ nhân dân, khoa môi múa mép tự phong anh hùng. Chúng hành xử như những tên bạo chúa phong kiến. Chúng bắt cả dân tộc tôn thờ những tên đầu hói, râu xồm mắt xanh mũi lõ như "tiên đế " với những lý thuyết xã hội chính trị mộng du, giả tưởng mà chính đất nước đẻ ra nó đã phải bóp mũi đem chôn. Chúng nó vẫn cứ lải nhải Bác nó kính yêu, anh minh, Ðảng nó trí tuệ tài ba! Mà nhân dân đói khổ sau gần một thế kỷ cầm quyền 25 năm hòa bình! Người dân trốn nghèo phải đưa con đi làm hầu, làm vợ ngoại nhân! Hay phải đi làm công nhân rẻ mạt nơi xứ người. Còn không thì đi làm gái ở bia ôm, nhà hát Karaoké phục vụ cán bộ, Việt kiều. Cả nước "Nhà nhà khách sạn, người người làm đĩ"[12]. Nhà nghỉ, Karaoké ( Ồ điếm hạng sang trá hình, với các cô gái trẻ từ các tỉnh về "làm việc") khắp phố khắp phường. Tận đến nơi xa xăm cùng khắp chỗ nào cũng có. Trơ trẽn, sống sượng đã trở thành "đức tính" của lãnh đạo, phẩm chất của tay sai, thừa hành.

Ðấy đất nước Việt Nam khốn khổ, dân tộc Việt nam bất hạnh bị Nguyễn Ánh Gia Long đem trả nợ cố đạo Tây mở đường cho thực dân vào đất Việt. Tây thực dân đến đục rữa xong khi ra đi nó để lại cho dân tộc này rặt một lũ ăn cướp, ăn cắp. Ắn cướp hay ăn cắp tuy mức độ phương pháp có khác là do khác "tài" khác "trí" nhưng đều bất thiện. Thằng ăn cắp quyền làm người, tự do của nhân dân Việt Nam không phải vì nó tử tế hơn thằng ăn cướp; chỉ vì nó kém tài thấp trí hơn thằng ăn cướp cho nên không hoặc chưa thể hiện hết nanh vuốt của nó mà thôi...Vì thế không thể nói "tao chỉ có ăn cắp thôi nên tao đuợc quyền chửi mày là thằng ăn cướp vì tao vẫn tốt hơn mày"..v.v. Và sở dĩ người ta phải chọn ở với thằng ăn cắp chứ không ở với ăn cướp chỉ vì không còn ai để chọn nên đành chứ không phải họ yêu gì thằng ăn cắp...

Tôi đã chứng kiến rất nhiều đồng bào tôi, ngồi lặng lẽ xem lại những hình ảnh đau thương của chiến tranh Việt Nam trên những phim ảnh tài liệu. Những cảnh chạy loạn Tết Mậu Thân, tang tóc: những chiếc đầu lâu kinh hãi nằm gọn trong những cái nón lá! Những mồ chôn tập thể mà tay chân vẫn còn bị trói quặt. Những hình ảnh lính chiến Cộng Hoà gian khổ, nhỏ bé ngượng ngùng trong bộ đồ chiến trận của đồng minh viện trợ nhưng già giặn với những nếp nhăn thiếu ngủ dù trong ánh mắt ước vọng tuổi thanh xuân, mộng mơ còn rất tràn đầy. Họ lầm lũi chiến đấu như Phan Nhật Nam đã ghi nhận: Họ dựa lưng vào nỗi chết để sống! Văng vẳng những lời dẫn giải của nhà văn Duyên Anh. Họ khóc! Những giọt nước mắt chân tình lặng lẽ rơi! Tôi biết họ khóc vì xót xa, cảm tạ những người đã nằm xuống; những giọt nước mắt tiếc nhớ cả một trời kỷ niệm vui buồn của họ. Họ rung động lẩm bẩm hát theo những lời ca năm nào..." Anh nằm xuống sau một lần dã đến đây..", "Con biết xuân này Mẹ chờ tin con..."

Tôi cũng đã thấy rất nhiều đồng bào tôi đứng lặng yên khi nhìn lại những phim tài liệu cảnh tiến công Ðiện Biên phủ. Mắt họ rạng rỡ khi những hình ảnh bé bỏng của đồng bào anh em dẫn những tù binh Pháp to lớn, lêu nghêu. Hay hình ảnh đồng bào họ loắt choắt dẫn những tên tù binh Mỹ dềnh dàng giữa phố. Và họ cũng lặng lẽ rướm lệ khi nhìn lại những gian khổ, máu lệ, khi trốn chạy bom đạn B52 trên đường phố Hà nội, với những mảng thịt rơi đâu đó của em bé, cụ già. Họ cũng bồi hồi nhìn cảnh từng đoàn người tay bị tay súng vượt rừng Trường Sơn vào Nam. Hình ảnh ngày xưa của con em, anh chị cha mẹ họ. Hay chính bản thân họ. Hôm nay cũng như những đồng bào trên kia của tôi, lòng họ vẫn xôn xao hát lại những lời ca năm nào. " Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn...".."Tiếng hát át tiếng bom..."

Tôi có thể tưởng tượng chuyện gì sẽ xẩy ra khi hai nhóm đồng bào tôi trao đổi với nhau những phim tài liệu ấy: Những sửng cồ, sỉ vả, nhiếc móc; những viện dẫn lôi kéo Mỹ đẹp, Mỹ tốt, Nga giỏi, Nga tài v.v và vv....Nhưng Tôi khó có thể tưởng tượng được cảnh cả hai nhóm đồng bào tôi cùng ngồi lại xem cả hai tập tài liệu rồi ôm nhau mà khóc. Dù không tưởng tượng được nhưng chuyện này phải xảy ra. Và phải xảy ra càng sớm càng tốt. Ðể đồng bào anh em của tôi thấy rõ được bản chất của cuộc chiến, không phải trong phim ảnh, mà chính trong ánh mắt, thân phận của nhau. Ðể thấy tất cả là nạn nhân của những tay bịp bợm buôn bán chính nghĩa dân tộc. Buôn bán xác thân người Việt, non sông đất Việt.

Không ai trên cõi đời này, dù nhân danh cái gì, cũng không được quyền tước đoạt những kỷ niệm, cảm xúc cao quí, đẹp đẽ và trong sáng của họ như thế. Kể cả Thượng đế nếu có! Và vì thế, họ cũng không thể nhân danh cái gì mà tứớc đoạt lẫn của nhau. Họ sẽ chấp nhận kỷ niệm, cảm xúc của nhau. Vì cuối cùng trong chân trời này, họ là nạn nhân và là đồng bào của nhau.

Ngày đó phải đến ! Những người Việt hai bên còn sống sót, còn sáng suốt, còn có tâm với dân tộc, đất nước phải khởi sự làm công việc đau khổ nhưng cần thiết này. Tôi dám đoan quyết là sẽ xảy ra. Vì nó là bước đầu tiên không thể thiếu trên lối về quê hương mà bất cứ người Việt chân chính nào cũng mong muốn thực hiện; và vì có ít nhất một người đã làm công khai. Ông làm rất chân thành và đầy quả cảm, khiêm tốn: công dân Việt Nam lưu vong Nguyễn Minh Cần.[13] Và chắc chắn trong hoàn cảnh hoạt động trong ngoài hiện nay, tôi biết có những người đã và đang làm một cách âm thầm nhưng mạnh mẽ, không chiêng không trống.

Phần I I Không có hòa giải ở bọn cầm quyền.

Vấn đề chính nghĩa.

Khi nói về giới cầm quyền điều đầu tiên phải minh định rõ ràng là vấn dề chính nghĩa. Vì nỗi khổ của dân tộc Việt Nam là cả tên trộm, kẻ cướp đã đưa Chính nghĩa ra để giải thích việc người ta đành phải ở với nó! Ðể giải thích những tồi bại của nó và để tiếp tục ăn cướp, ăn cắp và cai trị. Ðảng phỉ Cộng Sản nói chính nghĩa! Lãnh đạo Ngụy chạy làng ôm chân thực dân Mỹ, Úc v.v nói chính nghĩa. Mà Chính nghĩa là gì cơ chứ???

Nôm na mà nói thì chính nghĩa là cái lý do, mục đích mà một tổ chức, hay đội ngũ chính trị hình thành và hoạt động trong những giai đoạn quốc gia xáo trộn mà không thể có dân chủ trực tiếp. Cái lý do, mục đích này thể hiện quyền lợi Tổ Quốc, Dân Tộc, ước vọng của nhân dân. Khi đạt được những yếu tố đó tức là có chính nghĩa. Vấn đề có chính nghĩa hay không? Không còn được đặt ra khi có phương tiện dân chủ. Vì khi có phương tiện thực hiện dân chủ, Giới lãnh đạo có dân mệnh để hành động.

Trong lịch sử Việt Nam, ngay trong thời phong kiến quân chủ cũng vậy. Không phải hễ được làm vua thua làm giặc. Một hành động chuyển ngôi nhưng không đủ yếu tố "ước vọng của nhân dân" sẽ bị gọi là giặc, dù có tài ba hay làm được vua đi nữa. Nhưng một hành động thoán ngôi nhưng đạt đuợc ước vọng bảo vệ tổ quốc, tạo ấm no cho dân. Nhân dân sẽ coi là chính thống.

Lê Ðại Hành vì chính nghĩa bảo vệ tổ quốc, phế nhà Ðinh. Nhà Ðinh không còn đủ năng lực phát huy chính nghĩa. Lý Công Uẩn vì chính nghĩa bỏ nhà Tiền Lê. Vì nhà Tiền Lê đã làm mất chính nghĩa dưới sự cai trị của Lê Long Ðĩnh. Nhà Trần diệt và thoán ngôi nhà Lý cũng vì nhà lý không còn tạo được ấm no cho dân chúng nũa: Các vua cuối đời bất tài, nhu nhược, sa đọa. Dân chúng lầm than và hiểm họa xâm lăng Mông cổ đang gần kề. Nhưng nhà Trần chưa có chính nghĩa trong thời sơ khởi. Nhà Trần chỉ lấy lại được chính nghĩa trong sáng khi hành xử vì dân vì đất nước trong mấy triều đại đầu tiên. Và còn có cả dân mệnh rực sáng với hội nghị Diên Hồng trong thời kháng Nguyên nữa. Nhà Trần đã bảo vệ được tổ quốc, tạo ấm no cho nhân dân.

Như Hồ Quí Ly, dù rất cảm phục trí lực của ông và xét kỹ hiện trạng chính trị bấy giờ nhà Trần đã hết chính nghĩa, nhân dân không còn được bảo vệ ấm no. Và dù theo cái nhìn của chúng ta ngày nay; ta cũng không thể khiên cưỡng mà bảo là ông có chính nghĩa, hay dân mệnh được! Quốc mệnh thì có thể được. Dân Việt lúc đó không đồng ý với phương pháp và hành xử của cha con ông, dù có thể ông đã vì lợi ích quốc gia mà đưa ra một số chính sách hay, mới. Ông chỉ có thể có quốc mệnh là vì thế. Triều đại của cha con ông chưa tạo được chính nghĩa. Không bảo vệ được đất nước, chưa tạo được ấm no hạnh phúc cho dân.

Triều đại nhà Hậu Lê với chính nghĩa sáng ngời diệt Minh, tạo được phồn thịnh, hạnh phúc ấm no cho dân. Nỗi lòng cố Lê của nhân dân còn trải dài tới thời Nguyễn sơ. Ðức vua Quang Trung cũng với chính nghĩa rực sáng đại phá quân Thanh. Trong khi Nguyễn Ánh Gia Long, mượn thế lực Tây dương, thống nhất đất nước, rồi làm vua. Nhưng ai dám bảo Gia Long và triều đại của giòng họ ông có chính nghĩa? Trong lúc chưa nắm quyền, chính Nguyễn Ánh đã tiếp tế gạo cho quân Thanh để đánh lại quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Quang Trung Hoàng Ðế. Ðó là chưa kể đã mượn quân Xiêm đưa về Rạch Gầm khiến nhân dân bị hành hạ, hãm hiếp. Nhưng khi đến cuộc kháng Pháp. Ai dám bảo vua Hàm Nghi không có chính nghĩa?

Như vậy trong công cuộc kháng chiến chống Pháp. Tất cả các tổ chức kháng Pháp đều có Chính nghĩa. Việt Minh với chính nghĩa cũng sáng ngời đã đánh đuổi Thực dân Pháp ra khỏi đất nước. Nhưng ngay sau khi thực dân Pháp ra đi cái chính nghĩa sáng ngời đã rớt mất để lộ ra cả một âm mưu thóan đoạt, vọng ngoại, bán nước.

Ngoài Bắc, Hồ Chí Minh trực chỉ hướng về chủ nghĩa Cộng Sản. Bất chấp hạnh phúc nhân dân, bất chấp toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Nhân dân sống cơ cực lầm than, bị chà đạp nhân quyền, nhân phẩm hơn thời thực dân. Non sông lãnh thổ phải sang nhượng cho Trung Quốc. Thủ tướng Phạm Văn Ðồng, theo lệnh Hồ Chí Minh, từng ký tuyên bố Hoàng Sa Trường Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Và gần dây đã âm thầm nhượng một số bản làng biên giới phía Bắc cho Trung Cộng. Bằng chứng rõ rệt không cần văn từ sách vở. Cứ nhìn vào đời sống nhân dân, tình trạng đất nước trong suốt mấy chục năm quyền bính thì cũng đủ thấy Hồ Chí Minh và đảng cộng sản không còn có chính nghĩa. Nó cũng phơi bày dã tâm của cá nhân Hồ Chí Minh trong thời kháng chiến là: Ông chỉ vay mượn chính nghĩa ái quốc để luồn chủ nghĩa Cộng Sản và trách nhiệm vô sản quốc tế của ông và của đảng Cộng Sản vào mà thôi. Sau đó áp đặt toàn bộ những lý thuyết hoang tưởng lên đầu nhân dân Việt Nam. Cuộc cải cách ruộng đất với những màn đấu tố dã man đẫm máu, vô đạo lý, vô văn hoá, đã khiến hàng trăm ngàn lương dân vô tội, những gia đình có công trong kháng chiến chống Pháp phải điêu linh, tan nát. Tiêu diệt giới trí thức đã từng đổ máu xương trong công cuộc kháng chiến bằng cách qui tội cho Nhân Văn Giai Phẩm. Tất cả do chính Hồ chí Minh chỉ đạo mượn tay cố vấn Trung Cộng Mao-ít (Maoist) hành động. Cứ nhìn vào "kiến nghị tám điểm" Nguyễn Ái Quốc gửi phe đồng minh năm 1919 mà xem: Những tám điểm chính đáng ấy Hồ Chí Minh và tập đoàn cộng sản đã ăn cướp luôn của nhân dân Việt Nam sau khi đòi được từ tay Pháp. Bảo vệ lãnh thổ đất nước, hạnh phúc no ấm, nhân quyền, tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam, không hề là mục đích tối thượng của Hồ Chí Minh và Ðảng Cộng Sản.

Trong Nam, Ngô Ðình Diệm một cựu tay sai của thực dân, đuợc thực dân đưa về nắm quyền. Khởi sự đã không có chính nghĩa..Dù có được một cuộc "trưng cầu dân ý" do Mỹ ngầm chỉ đạo để nhân dân miền Nam chọn giữa một tên cựu hoàng, quốc trưởng bất tài ăn chơi, vô trách nhiệm và một tên cựu quan lại, tay sai thực dân. Mạt cưa mướp đắng! Nhân Dân chạy đường nào! Trong 9 năm cầm quyền bính Ngô Ðình Diệm cũng không chủ trương tạo no ấm hạnh phúc cho nhân dân. Không tôn trọng ước vọng tự do dân chủ của nhân dân. Ðàn áp Phật Giáo, bắt bớ các phần tử đối kháng yêu dân chủ, các cựu đảng viên đảng phái thời kháng chiến nào không ủng hộ chế độ. Chế độ Ngô đình Diệm khởi sự không chính nghĩa, do thế lực ngoại nhân đưa về dựng lên, hành xử không tạo được chính nghĩa. Giả sử nhà Ngô trong lúc chấp chính tạo được chính nghĩa bằng cách xây dựng đoàn kết toàn dân, thật tâm dân chủ hóa đất nước. Thì dẫu là do thế lực ngọai nhân đưa về, mà tạo ấm no, hạnh phúc, dân chủ tự do cho nhân dân. Và chỉ cầm quyền có 3 năm hay 5 năm theo hiến định, ai còn dám nói Ngô đình Diệm không có chính nghĩa? Tiếc rằng lịch sử 20 năm của miền Nam đã không bao giờ tạo đuợc Chính nghĩa sau khi đã để mất chính nghĩa về phía Việt Minh với Ðiện Biên Phủ 1954. Họ, những người theo phe "quốc gia" cãi cối rằng tôi chống Cộng tức là có chính nghĩa rồi. Cộng Sản cũng cải chày rằng tôi chống thực dân, đế quốc ngoại xâm là chính nghĩa!!! Nhân dân Việt Nam bị những lãnh tụ, chí sĩ, trí thức tay sai "chấn" vào cuống họng những "chính nghĩa" như thế và bắt ngậm cả gần thế kỷ nay.. Nhân dân ngậm đấy! Nhưng họ không bao giờ "nuốt" những cái "chính nghĩa thô bỉ" như thế.

Nhìn thoáng qua lịch sử, Hồ Chí Minh và Ðảng cộng sản đã có chính nghĩa, có công trong công cuộc đánh đuổi thực dân Pháp với sự dứt điểm vào năm 1954 bằng trận Ðiện Biên Phủ. Tưởng cũng nên mở ngoặc ở đây để giới trẻ có thêm chi tiết quan trọng là một số tướng lãnh, lãnh đạo chế độ miền Nam, đã có mặt trong trận Ðiện Biên Phủ nhưng dưới ngọn cờ của Pháp. Nói một cách khác họ từng là lính đánh thuê cho thực dân chống lại đồng bào, tổ quốc mình. Cũng nhìn từ góc độ như vậy pha thêm một chút tính phong kiến, Ðảng Cộng Sản Việt Nam lại có công thống nhất đất nước vào năm 1975. Ta cũng phải mở ngoặc ở đây để nhấn mạnh một điểm quan trọng của lich sử là: Từ sau ngày chế độ Ngô Ðình Diệm bị lật đổ, 1963, các chế độ kế tiếp hoàn toàn vô chính nghĩa và bất lực trong việc bảo vệ chủ quyền đất nước, trước việc đổ quân chiếm đóng, cưỡng chế miền Nam năm 1965, bằng cuộc đổ bộ của lính tác chiến Mỹ vào Ðà Nẵng. Trong khi ngoài Bắc, Hồ chí Minh phải cúi đầu trước áp lực của Trung Cộng, đưa cố vấn vào chỉ đạo đấu tố, cải cách ruộng đất. Ðồng thời chính Hồ chí Minh mượn dịp này để ném đá dấu tay tiêu diệt trí thức đối kháng, mầm mống dân chủ. Cũng trong giai đoạn này Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản chính thức nhượng đất đai của tổ tiên cho đàn anh Trung Cộng để đổi lấy bom đạn bằng văn bản công bố Hoàng Sa Trường Sa là của Trung Quốc. Ðiều quan trọng mà tất cả người dân Việt Nam cần nhớ là trong giai đoạn này hầu như không có Dân Mệnh, tính chính đáng duy nhất của một chính quyền.

Khi không có Dân Mệnh, ta đành phải xét xem chế độ còn có chính nghĩa để tồn tại hay không.

Thứ nhất, Hồ Chí Minh và Ðảng Cộng Sản Việt Nam sau khi đã dùng chính nghĩa ái quốc (Nguyễn Tất Thành phải đổi tên thành Nguyễn Ái Quốc, không phải Nguyễn Ái Cộng, hay Nguyễn Ái Xã Hội Chủ Nghĩa là vì thế) để đánh đuổi thực dân Pháp, đã không thực hiện tự do dân chủ cho nhân dân, cho dù ít nhất là theo tinh thần kiến nghị "8 điểm" mà chính ông Hồ đã đại diện Việt Nam, nêu ra để đòi chính phủ thực dân Pháp trả lại cho Việt Nam vào năm 1919:

1/ Thả tự do cho tất cả tù nhân chính trị.

2/ Thay đổi hệ thống tư pháp, bảo đảm công lý như người Ấu Châu, thay thế cho hệ thống toà án đang dùng thực tế là công cụ tra tấn đàn áp khủng bố chống lại nhân dân Việt nam.

3/Tự Do ngôn luận, tư tưởng, phát biểu ý kiến.

4/ Tự do hội họp, lập hội đoàn thể.

5/Tự do cư trú, vãng lai, du lịch.

6/ Tự do giáo dục mở trường học;

7/ Huỷ bỏ chế độ pháp lệnh, sắc lệnh thay bằng hệ thống tư pháp pháp trị.

8/ Có đại biểu thực thụ của dân chúng ở quốc hội để quyết định sự việc cho dân bản xứ.

(Revendications du Peuple Annamite, ký Nguyễn Ái Quấc)

Ðọc hết tám điểm kiến nghị này, người Việt Nam nào không rởn tóc gáy nếu đem thay đổi người gửi ký tên là nhân dân Việt Nam; và nơi gửi đến là Ðảng Cộng Sản Việt Nam và cái nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, rồi Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt nam, thì vẫn quá hợp thời, hợp cách! Dù đã gần một trăm năm trôi qua! Và Thực dân Pháp đã ra đi gần nửa thế kỷ rồi!!! Ta sẽ nhận ra Hồ Chí Minh và Ðảng CSVN trở thành thực dân thống trị da vàng. Mà còn tồi tệ hơn nữa.

Thứ hai, sau khi thống nhất đất nước tháng 4-1975, Ðảng Cộng Sản đã không đoàn kết dân tộc: bắt bớ, bỏ tù vô lối hàng trăm ngàn người miền Nam. Ðảng CSVN vẫn ngoan cố độc quyền chính trị, tự ý thay sửa hiến pháp, thay đổi tên nước. Ðưa tuổi trẻ Việt Nam vào chiến trường Miên, đưa dân tộc vào vòng lạc hậu đói khổ.

Cho đến nay nhân dân Việt Nam về chính trị vẫn không có tự do, dân chủ. Không có tự do cư trú, không có tự do tôn giáo, không có tự do ngôn luận. Về đời sống vật chất vẫn không có yên ổn, ấm no, hạnh phúc, vẫn bị cường quyền, đảng viên công an nội vụ sách nhiễu, hà hiếp. Về văn hoá đạo lý, xuống cấp sa đọa; trẻ em không những không được cắp sách đến trường mà cũng còn phải đi làm thuê, đánh giầy, thậm chí làm đĩ điếm để nuôi gia đình. Tệ nạn xã hội: Xì ke ma tuý, nhà điếm trá hình khắp nơi trên đất nước. Về chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, Hoàng Sa Trường Sa mất. Các bản làng biên giới phía Bắc đã âm thầm bị sang nhượng cho Trung Cộng.

Xét từ lòng nhân dân mà định, thì hễ cứ bảo vệ được đất nước, tạo được ấm no cho nhân dân là có chính nghĩa. Dù hoàn cảnh lịch sử không có được trực tiếp dân chủ để có dân mệnh rõ rệt. Chính nghĩa hay không là do nhân dân thẩm định hành trạng của chế độ. Không thể vì một công trạng ban đầu mà "cưỡng ép" nhân dân chấp nhận chính nghĩa. Công trạng, chính nghĩa của vua Lê Ðại Hành, không thể dùng để giải thích hay lý do tồn tại của Lê Long Ðĩnh. Chính nghĩa, công trạng của các triều tiên Trần cũng không thể, không đủ để giữ nhà hậu Trần với Trần Ích Tắc. Cũng như tội của Nguyễn Ánh, không thể dùng để bác bỏ chính nghĩa của vua Hàm Nghi. Và Cũng chính vì như vậy, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam không thể lấy cái công trạng ban đầu chống thực dân để làm lý do chính đáng tiếp tồn tại, độc quyền khi đã đi ngược lại quyền lợi và nguyện vọng của đất nước của nhân dân. Ðảng Cộng Sản Việt Nam chưa bao giờ có Dân Mệnh, không còn chính nghĩa ,và có tội.

Có thể, một vài nhân vật "sử gia" sẽ không đồng ý mà cho rằng ngày 2-9-1945, khi Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập là có "dân mệnh"; và rằng sau đó có tuyển cử đại biểu quốc hội với một cựu quan lại triều Nguyễn làm chủ tịch đầu tiên, Ông Bùi Bằng Ðoàn, thân phụ ông Bùi Tín. Thưa rằng vẫn không có dân mệnh. Vì hoàn cảnh chiến tranh, dân chúng không bầu cho đảng Cộng Sản hay Hồ Chí Minh nhưng mọi người mặc nhiên chấp nhận vì bấy giờ Việt Minh là một tổ chức liên hiệp đa đảng. Nó bao gồm nhân sự đảng Ðại Việt, Quốc Dân Ðảng, Dân Chủ, Duy Dân, cựu quan lại phong kiến v.v Chủ Tịch Hồ Chí Minh, phó chủ tịch cụ Huỳnh Thúc Kháng và các nhân sự như Vũ Hồng Khanh, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam v.v Ngay sau đó Hồ Chí Minh và các phần tử Cộng Sản đã tạo làn sóng thanh trừng các đảng phái không Cộng Sản trước khi và trong khi Mỹ đưa Pháp trở lại Việt Nam[14]. Trong giai đoạn này như tôi đã trình bày: Tất cả có chính nghĩa. Chính nghĩa thôi! Chứ không có Dân Mệnh! Cho đến năm 1954 sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ. Chế độ Cộng Sản chuyên chế được thiết lập. Dân Mệnh đã không mà chính nghĩa cũng không có là vì thế.

Nói tóm lại, bằng chứng lịch sử trong suốt thời hậu thực dân cho ta thấy được rằng : giới cầm quyền là những tên não bộ đã sơ cứng với guồng máy, nghiện ngập quyền hành và nhuần nhuyễn những thủ đoạn tinh vi.. Loại người này sai lầm trong tất cả mọi tư duy hành xử chính sách theo bản chất. Nhưng không hề sai lầm trong việc cướp đoạt, hành hạ, bắt bớ, thủ tiêu. Ðó là chính sách nhất quán của bọn cầm quyền phi dân chủ, vô pháp trị. Dù cộng sản hay không cộng sản.

Như thế vấn đề hòa giải với bọn cầm quyền cộng sản hiện nay là không tưởng. Ðúng như Montesqieu nhận định. Chỉ có hai cách đối xử với lớp cầm quyền là nếu nó có Dân mệnh và hành xử chính đáng theo dân mệnh hiến pháp, thì để, ngược lại nếu không có dân mệnh, lại hành xử bạo ngược thì người dân sẽ phải phế bỏ.

Hiện nay tổ quốc và nhân dân Việt Nam đã sống dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản Việt Nam hơn 70 năm với hơn 25 năm, một phần tư thế kỷ, hòa bình. Nhưng lãnh thổ của cha ông tổ tiên bị âm thầm đem thế nhượng cho Trung Quốc để đổi lấy sự an nguy cho Ðảng. Nhân dân thì lạc hậu lầm than. Nhân quyền, tự do không hề có sau hơn 70 năm dài. Thì việc phế bỏ Ðảng Cộng sản Việt Nam là chuyện đương nhiên phải làm. Ðảng Cộng Sản Việt Nam không còn đủ tư thế để đối thoại và tồn tại. Vấn đề còn lại là sự tranh đấu một mất một còn giữa Ðảng Cộng Sản Việt Nam và Nhân Dân Việt Nam mà thôi. Không tương nhượng mặc cả. Nhân Dân Việt Nam phải lấy lại nhân quyền, tự do và dân chủ bằng mọi cách. Ðảng Cộng Sản Việt Nam phải giải tán. Ít ra là 25 năm sau mới được quyền tự do hoạt động lại bình đẳng như các đảng phái khác. Vì Ðảng Cộng Sản không những không bảo vệ được tổ quốc, không tạo được ấm no cho nhân dân, mà còn đi ngược lại nguyện vọng của nhân dân, nhũng loạn, thao túng, chà đạp nhân dân, làm đất nước tụt hậu, văn hóa, đạo lý suy đồi một thời gian đã quá dài. Chưa có chế độ, đảng phái nào trong lịch sử Việt Nam xiển dương xúi dục con tố cha, vợ tố chồng, hỗn xược, quên lãng với tổ tiên như Hồ chí Minh và Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Ðảng Cộng Sản Việt Nam, công ít tội nhiều. ÐCSVN đã có tội tày đình với nhân dân và đất nước tổ tiên Việt Nam. Một tội đồ lớn nhất lịch sử dân tộc.

Sẽ phải có một thời điểm Ðảng Cộng Sản Việt Nam, những tên đầu lãnh, Cộng Sản hay không Cộng Sản phía miền Nam, những tên tay sai Pháp, Mỹ, phải bị đưa ra cho nhân dân Việt Nam xét xử để các thế hệ sau soi gương. Và nước Nhật, Pháp và Mỹ phải chính thức xin lỗi dân tộc Việt Nam về những tội ác mà họ đã gây ra trong quá khứ.

Phần III: Làm thế nào để Hoà Giải Dân Tộc.

Trả lại sự thật cho lịch sử. Những chứng cớ, hoài nghi, giả thuyết phải được phơi bày rõ rệt khách quan.. Muốn được như vậy, những người Việt có "kỷ niệm chính trị" trong thời chiến cần phải bình tâm nhìn vào sự đau khổ của nhân dân trước những tự ái của bản thân, của phe nhóm mình. Không tranh ai thắng, ai thua, ai đúng, ai sai. Lạy Giời! Có người Việt nam nào, có thời đại nào, lại nhẫn tâm hãnh diện phải trái trên xương máu của đồng bào mình không? Có người Việt Nam nào, chế độ nào, lại cầm tay ngoại nhân mà tươi cười chiến thắng trên thân xác, máu xương của đồng bào mình không? Hay chỉ có ở cái thời đại chủ nghĩa toàn cầu, quốc tế, đa văn hóa này! Khi con cháu của đức Hùng Vương, tay vấy máu anh, chị em mà miệng cười tiếp đón ngoại nhân, đổi tên đổi họ!

Hãy nhìn vào dân tộc như một khối: Nếu thắng, cả dân tộc này thắng. Nếu thua, cả dân tộc này thua. Nếu đúng cả dân tộc này hưởng cái đúng. Nếu sai cả dân tộc này chịu đựng cái sai. Nếu được cả dân tộc này được. Nếu mất cả dân tộc này mất mát.

Trong "Chuyện nước non", Ông Nguyễn Minh Cần đã can đảm vượt lên trên tất cả những tự ái hão về qúa khứ, niềm tin, quán tính phe nhóm, để nhìn vấn đề cho cả một dân tộc. Ông nói ông rất hãnh diện vì đã tham gia, đóng góp trong công cuộc kháng chiến chống Pháp của toàn dân. Nhưng rất ân hận và cảm thấy có tội vì đã trực tiếp và gián tiếp đóng góp cho Ðảng CSVN tác hại đến đất nước và dân tộc.

Làm sao chúng ta nhìn ra được, thấy được trước mắt là cả dân tộc bị vùi dập thiệt thòi sau những mỹ từ của các lãnh tụ đảng phái. Và cái cần nhất, chính đáng nhất là tranh đấu cho dân tộc này có dân chủ, tự do. Chúng ta khi đã để những tự ái, kỷ niệm vào đúng vị trí cá nhân của nó, không dùng làm nền tảng để tranh thủ, tranh đấu để chứng minh phe này đúng phía kia sai. Nếu cao cả và chân chính. Khi nhìn lại những vui buồn của mình. Xin hãy đưa những vui buồn ấy gói vào mối tình trọn vẹn cho cả đất nước: Cộng thêm vào những kỷ niệm của thời mình những đau khổ, đẹp đẽ của anh chị em bên kia ..

Những sự thật về Hồ Chí Minh phải được thẳng thắn phơi bày. Tất cả những hay dở, lớn nhỏ, đúng sai phải được công luận hoá để nhân dân nhìn vào và sẽ có những phán quyết của họ. Kể cả những vấn đề như vụ chị em Nông Thị Xuân v.v. Những sự thật về các lãnh tụ, chế độ Cộng Hòa miền Nam. Ngô Ðình Diệm, Tưóng lãnh v.v. Những chứng cớ tay sai cho Mỹ chỉ muốn nắm giữ quyền bính, không vì dân tộc đất nước. Tất cả phải được phơi bày một cách thẳng thắn. Ðể nhân dân thấy rõ được bản chất thật của cuộc chiến tương tàn, cuộc cách mạng trên dất Bắc, những chứng cớ tay sai bán nước chỉ vì muốn lưu giữ quyền bính của Bác của Ðảng. Bản chất thật của cái gọi là "Chính nghĩa tự do" của Mỹ và các chế độ miền Nam.

Ngày hôm nay, trong hầu hết các thư viện của các nước dân chủ tự do, tài liệu phim ảnh phỏng vấn những nhân vật có liên hệ trực tiếp đến cuộc chiến Việt nam từ năm 1945 đều có đủ. Nó sẽ giúp thế hệ trẻ và tất cả chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn từ mọi phía và tương đối khách quan hơn. Dĩ nhiên trong đó vẫn trộn lẫn những "Ý KIẾN" riêng của từng nhân vật. Nhưng giới trẻ với cung cách, tinh thần nghiên cứu sẽ cùng nhân dân nhận biết được đâu là bằng chứng sự kiện, đâu là ý kiến, quan điểm cá nhân. Thí dụ như: "Người Mỹ chủ động đưa Pháp và giúp Pháp trở lại xâm chiếm Việt Nam bằng những trợ giúp về máy bay, tàu chiến, bom đạn và thông tin tình báo vào năm 1950-1954" là sự kiện lịch sử. Còn Mỹ hành động như vậy là "yêu" hay Ẫghét" dân tộc Việt Nam, vì chính nghĩa tự do hoặc chủ trương hình thành thế lực thực dân mới", là quan điểm, ý kiến riêng.

"Giới lãnh đạo tiền phong của phe quốc gia phần lớn là tay sai cũ của Pháp, đã từng theo lệnh Pháp lùng bắt Kháng Chiến Việt Nam, hoặc tham gia Ðiện Biên Phủ cùng Pháp bắn lại người Việt Nam" là sự kiện. Còn họ làm thế vì những lý do này khác v.v và v.v là ý kiến quan điểm.

Tất cả phải được trưng bày một cách khách quan tối thiểu để nhân dân và giới trẻ nhìn ra đuợc và tách được những nhơ bẩn của lãnh tụ và đảng phái ra khỏi chiến công đánh ngoại xâm của dân tộc. Tách mồ hôi nước mắt và máu xương của nhân dân ra khỏi những cử chỉ phường tuồng của tập đoàn lãnh tụ, chí sĩ và tướng lãnh, những kẻ mà trong máu trong óc của họ chỉ đầy những quyền bính hưởng thụ, không có một ý niệm yêu nước kính dân. Ðiều mà ngay cả một nhà văn kinh nghiệm như Vũ thư Hiên đã không làm được trong "Ðêm Giữa Ban Ngày" do tình cảm cá nhân gia đình quá nặng với những kỷ niệm kháng chiến hào hùng, dù kết cục cay đắng tàn khốc. Nhưng đó cũng là những "nhân tính" "nhân tình" bình thường thôi. Ngay cả nhà văn lớn như Arthur Koestler khi viết "Darkness at Noon" cũng âu yếm kỷ niệm về "ông già nhỏ thó" mặc dù đã nhận rằng "cái nhất điểm lương tâm" đã làm mình vô dụng cho "cách mạng". Arthur Koestler chỉ "cày xới" Stalin và chế độ của Stalin! Mà không phân xẻ bản chất độc hại thường trực của chủ nghĩa không tưởng Cộng Sản.

Thời gian sẽ làm thay đổi khi sự kiện đuợc trưng bày, khi lòng can đảm tự trọng được phục hồi., Sự Thật sẽ trở lại nguyên dạng.

Và điều này, tiến trình này sẽ dễ dàng hơn khi được khởi đầu, đóng góp bởi những người trong cuộc như đảng viên, cựu đảng viên, cán bộ của chế độ hiện tại; những cựu sĩ quan, công chức miền Nam mới được. Vì họ là những chứng nhân đi ra từ hai gọng kìm lịch sử. Như ông Nguyễn minh Cần và nhiều người khác đã và đang làm..

Phần IV: Vì Sao???

Sau khi đã cố gắng chặt gai, phạt cỏ để tìm "Lối Về" quê hương cho mình. Tôi có ý định đem in với số lượng tối thiểu nhà in đòi hỏi và "đem khoe" làng xã. Cũng may trong lúc hí hoáy viết bản thảo, tôi có dịp đem khoe những anh chị tôi được quen trên mạng liên-tín. Trao đổi bài vở ý kiến. Ðọc xong những bài họ viết, nhìn lại cái mình viết mới thấy ngớ ngẩn, lố bịch. Mình chỉ viết lại những ý nghĩ tản mạn, mà viết vẫn chưa hết ý, chưa tận đề mà dám "xuất bản"! Rồi vài tháng sau lại vài ngàn đồng "xuất bản"! Thức suốt đêm để nghĩ về bên kia biển Ðông, nơi có những đầy đọa từng giây! từng đêm về, trong từng giấc mộng!Trùng điệp những vấn nạn to nhỏ. Tôi bỗng nhận ra mình thiếu tự trọng, dù ít nhất trong cách dùng tiền của cá nhân mình. Tôi có thì thầm với ông Lội Ngược điều này và Ông cũng cho tôi ý kiến (chủ đích cái "mạng" của Ông ta mà) cứ lưu truyền tromg thân hữu, trên mạng; còn thời giờ để viết những gì cần viết, chưa viết. Chúng ta không còn nhiều giờ... Mà quả thật chúng ta không còn nhiều giờ nữa. Dù là gìờ cá nhân hay giờ thời cuộc...Vì thế tôi đã ngưng và tiếp tục tản mạn suy nghĩ tiếp nối vào "Lối Về" cho đến lúc khai thông thành con đường thênh thang.

Khi tôi đặt bút viết lại nhũng suy tư của cá nhân về hiện trạng đất nước, dân tộc; dù chỉ là những ý kiến, suy tư tản mạn nhưng không phải đột nhiên một sớm một chiều "ồn ào lớn lối bung xung". Tôi suy gẫm từ những diễn biến lịch sử đã qua, trong sách vở ghi lại của thế hệ đi trước, của chính bản thân mình: Những ấu trĩ của thời niên thiếu, những sai lầm cùng với thời đại, những ngộ nhận cưu mang từ thế hệ cha mẹ, anh chị và của những người chung quanh mình hôm nay. Nhất là gần 20 năm lạc nhà xa xứ, cứ nghĩ rằng mình ra đi để "tìm đường cứu nước". (Lạy đức quốc tổ Hùng Vương, con xin thề là đã không ra đi từ bến Nhà Rồng và khởi sự làm bồi trên tầu Tây nào cả!!!). Cứ ngỡ nó giống như thời cha anh chống Pháp: Chia nhau căn phòng, ăn qua miếng bánh mì đen, rồi dồn tâm trí vào vận động dư luận thế giới, tuyển mộ nhân sự v.v Nhưng ôi thôi! Mờ mắt trả tiền thuê nhà, tiền điện thoại, tiền hơi đốt, bảo hiểm xe v.v Tranh giành gấu ó gốc Việt với nhau, thi đua hội nhập; vào quốc tịch, đổi họ đổi tên, đổi vợ đổi chồng... Tất cả những cái lăng nhăng của cuộc đời tha phương, sống nhờ vả xứ người như thế, đã nuốt gần hết cuộc đời! Có may còn lại ngày cuối tuần thì gắng lắm đi hô hoán khẩu hiệu phục quốc trong phòng họp. Hay thì một năm vài lần tụ hội đả đảo, nhắm mắt đả đảo bất cứ cái gì nhúc nhích hoặc không nhúc nhích đến từ nơi chôn nhau cắt rốn của mình!!! Xong về mai lại đi cầy, rồi nghe Mỹ rục rịch!!!

Những chi tiết "sống động" như vậy chính là những chứng cớ đã đưa tôi đến kết luận mà ít ai trong đồng bào tôi chấp nhận: Có một cái gì không ổn trong não trạng, nếp tư duy của đồng bào tôi khiến cho Chế độ cứ nằm ì ra đấy, mà rồi tự do dân chủ khó có cơ nẩy mầm và tồn tại, phát triển.

Ở đâu đó, tản mạn một lần tôi đã nhận định rằng vấn đề huỷ bỏ nghĩa cộng sản, đảng cộng sản tại Việt Nam là vấn đề. Nhưng để hủy bỏ chế độ gian ngoan này trưóc tiên phải tìm cách hủy bỏ nếp tư duy cằn cỗi trong não trạng người dân trước. Vì chỉ có nhân dân, những người đang bám vào mảnh đất khốn khó, bất hạnh đầy nước mắt và máu này mới đủ sức và đủ tư cách tước quyền đảng Cộng Sản, dành lại tự do dân chủ cho chính họ mà thôi. Không có thế lực ngoại bang, dư luận thế giới nào, dù là trong thời đại toàn cầu hoá chính trị; không nghị quyết của quốc hội nước nào, hay cả Liên Hiệp Quốc; Và cũng không có chí sĩ, lãnh tụ, bác học uyên thâm, "minh quân, thánh chúa" nào có thể làm được khi mà người dân vẫn xoay quanh miếng cơm, cái áo với cái vòng "kim -cô" "bốn ngàn- năm -văn- hiến-oai -hùng-chống-ngoại- xâm", "tiền rừng bạc bể" vẫn xiết chặt. Ðể rồi, nói như ông Hà Sĩ Phu, cứ phải mất đất, mất nước, rồi lại anh hùng chống ngoại xâm đến bờ con mắt, rạc rài bản thân. Cuối cùng ngửa tay sống bằng lòng từ tâm của kẻ từng xâm lăng cỡi cổ mình. Nói như những chú em của tôi trước năm 1975 là ta có bốn ngàn năm văn hiến, mà ba ngàn năm mặc quần thủng đít và một ngàn năm ngồi xin kim chỉ vá mông! Nghe nó tếu nhưng không xa sự thật... và đau quá!

A! Thằng ranh này láo nhỉ! Mày là thằng cha căng chú kiết nào mà dám chê cả dân tộc, nhân dân Việt Nam à? Dạ thưa không! Tôi chửi tôi, tôi chê tôi, tôi đang soi gáy nhìn lại mình để học lấy cái sai, cái ngu của tôi đây. Vì tôi cũng là một người Việt Nam với những từng ấy "kiêu hùng" trong máu. A! mày thì biết cái gì, mà bàn văn hoá, mà chính trị, phê bình người khác! Tuổi đời mày bao nhiêu,? Có tù Thực Dân, tù Mỹ, tù Ngụy, tù Việt Cộng không? Ðược bao nhiêu năm mà bi bô thế! Ðể lịch sử sẽ phán xét tất cả! Dạ thưa, tôi là người dân, tôi là lịch sử ạ! Lịch sử phê phán là nhân dân phê phán! Tôi cũng chỉ là một nhân tố của lịch sử đây, hậu quả và tiếp nối! Dù rất bé bỏng nhỏ nhoi...!!! Tôi đang làm bổn phận với chính bản thân, truy tìm sự ngu dốt hợm hĩnh, lầm lạc, hung hăng nghiệt ngã của mình để trở về với mồ mả cha ông. Tôi cũng chính là một phần nhỏ nhoi di truyền của đức Lạc Long Quân và tổ Ấu Cơ. Tôi chỉ làm bổn phận của tôi: đi mon men, đi lại từ đầu mối của oan khiên nghiệt ngã đã bám lấy thân này, não trạng này.

Oan khiên còn lắm ,Nghiệt Ngã còn dài.

Tôi đã thưa chuyện về những cái nhảm nhí bên này bên kia, Bắc Nam, Quốc Cộng. Những cái "đức nhân từ, anh minh" của lãnh tụ, chí sĩ. Những lưu luyến kỷ niệm một thời đã xâu xé bản thân tôi, dân tộc tôi. Nhưng những cái thứ ấy ở đâu nó ra nhỉ? Sao lại hỏi ấm ớ thế cơ chứ! Không! Tôi không ấm ớ đâu ạ! Chừng nào mà Việt Kiều còn những "lý cớ" để ngăn cản, chống đối những buổi lưu diễn của nghệ sĩ trong nước; còn cố gắng ngăn cản giao thương bình thường của các mặt hàng do mồ hôi, nước mắt xương máu đồng bào tôi tạo ra, bằng những tấm thân rạc rài thiếu ngủ; những nếp nhăn trước tuổi, đòn vọt mắng chửi của chủ nhân cơ chế thị trường mới, trong đó có cả mồ hôi, nước mắt của những em bé không còn tuổi thanh xuân, tung tăng nơi trường học (và dù cùng nằm dưới lằn "roi vọt chính trị" của cường quyền Việt Cộng"), chừng nào những ông đảng viên, cựu đảng viên còn chưa thắp được một nén nhang trên những nấm mồ đồng bào nạn nhân của Việt Cộng đã nằm xuống tưới máu trên những nắm đất cằn cỗi hôm qua, trong những vụ thảm sát vô lối, đầy đọa vô nhân, chừng nào còn những con người đội trên đầu hình ảnh Bác "kính yêu" tưới cây, ôm hôn nhi đồng (dù nước da của Bác thì hồng, nước da các cháu cứ màu xanh xao)[15] làm điều hãnh diện hung hăng với chính đồng bào mình, chừng nào vẫn còn những người Việt chỉ thấy Cụ Diệm chân chính, nước Mỹ nhân từ mà chối bỏ máu xương của đồng bào mình đã đổ ra cho nền độc lập của tổ quốc này, thì tôi sẽ còn đặt những câu hỏi ấm ớ này mãi không thôi.

Ôi! Cái nghiệt ngã của con người Việt ở đâu ra thế này? Thằng Mỹ nó cố gắng bỏ đói, bỏ khát nhân dân IRAQ lấy lý cớ còn Sadam Husein độc tài gian ác. Dù hậu ý thế nào vẫn cứ là do "nước lã" Iraq, chứ không phải "máu đào" của Mỹ của Anh. Nhưng có ai hỏi tại sao nó không bỏ đói nhân dân Trung Quốc, hay Bắc Hàn để triệt hạ Chế độ Cộng Sản này nhỉ?

Những não bộ nghiệt ngã, oan khiên ấy có thấy được rằng cô lập thời Mao, mà Mao có thiếu thốn đau khổ, cán bộ có nhịn đói vất vả không? Hay chỉ nhân dân Trung Quốc là xác xơ tả tơi! Stalin, Krutchev có ăn độn không? Hay nhân dân Sô Viết vật vờ chết lả. Bao vây cách ly như cha con Kim Nhật Thành đấy, chủ trương cách ly, "tự túc, tự cường" Cha con họ có mất một lạng mỡ nào không? Hay nhân dân Bắc Hàn cùng cực lầm than? Mấy chục năm "anh hùng" không thị trường của Việt cộng đấy. Hồ Chí Minh và đảng viên cao cấp có phải xếp hàng mua sắn mua khoai không? Hay là chỉ có nhân dân Việt Nam đã gần trở thành loài thú hai chân cắn xé nhau vì bát cơm vơi?

Những não trạng "giữ vững lập trường này" có thấy được rằng đến khi có "bước tiến nhảy vọt" thì mới có Thiên An Môn không? Ðến khi có Glasnost mới có điều kiện giật tường Bá Linh không? Và ở quê nhà có "mở cửa giao thương" mới thấy có Dương Thu Hương, Trần Ðộ, Hà Sĩ Phu,v.v Mới thấy có Thái Bình, Nguyệt Biều, Nam Ðịnh, Tây Nguyên không??? Hỡi các đồng chí khả kính! Hỡi các chiến hữu anh hùng! Hãy xòe bàn tay ra nhìn xem, ngửi xem, có thấy máu Mỹ, máu Tầu, hay máu anh chị em mình! Máu đồng bào mình! Hãy vạch những sản phẩm ra xem! Có thấy Việt Cộng hay mồ hôi công sức của đồng bào mình, con em mình đang chờ bán được để có bữa cơm đầy, để có buổi học sáng mai...

Ðối với những người "quốc gia tị nạn" ngoài này, nước Mỹ, nước Úc, nước Gia Nã Ðại, nước Anh v.v là của "riêng" họ. Chỉ có Họ mới có quyền tự do sinh sống hành nghề, ngôn luận, phát biểu, treo cờ quạt, hình ảnh. Còn những đồng bào khác chính kiến, hoặc đến từ "quê hương" dấu yêu đến đây không "được" quyền tự do như họ, nếu nghĩ khác, làm khác, treo cờ khác, hình khác. Phải trong sạch hoá cộng đồng!!! Biểu ngữ, chữ nghĩa, xuất phẩm văn nghệ phải lấm lét coi chừng! Giời ơi! là Giời! Sao nghe nó giống trong sạch hóa hàng ngũ đảng viên cán bộ; trong sạch hoá sinh hoạt văn hóa xã hội, tiêu lệnh hiện thời của Ðảng ở trong Việt Nam vậy!!! Nước Mỹ, Nước Úc, nước Gia Nã Ðại v.v tự dưng biến thành hai "đất nước, hai thể chế" trong một quốc gia đối với người gốc Việt Nam! Tôi chẳng thấy ông Việt Kiều chống cộng nào dám hung hăng với người bản xứ khi nó treo hình Hồ Chí Minh, hình Mao, Lenin, cờ búa liềm, cờ đỏ sao vàng cả! Nó viết cả sách, nó làm cả phim! Có mà dám! Quyền tự do của nó đấy có mà rờ vào! Ở đợ, con đòi sao dám bấu áo chủ!

Họ "dị ứng" với hầu như tất cả cái gì từ Việt Nam nữa cơ chứ! Tôi từ Việt Nam quay trở lại đất tạm dung này. Ði thăm lại đám người quen. Kể cho họ nghe những gì mình thấy. Tôi khen những cái hay, cái đẹp của "người" Việt Nam bên đấy. Họ dẫy nẩy chống đỡ. Có nể lắm thì đánh trống lảng. Những ấn phẩm văn hoá "phi chính trị" mua ở Việt Nam mang theo cái cho, cái tặng họ bỉu môi dửng dưng. Mấy tháng sau bất ngờ ghé thấy họ "len lén" dùng từ điển, dùng bộ CD anh ngữ, văn phạm từ điển Ðồng Nai.. (Vì cả khối tiến sĩ điện toán, chuyên gia ngoài này mà có bộ nào ra hồn đâu!!! Trừ một lô các bộ gõ dấu Việt ngữ!!!)

Ðối với người đảng viên trong nước, họ coi đất nước dân tộc là chiến lợi phẩm của riêng Ðảng họ. Chúng tôi "lãnh đạo" đánh Tây, đánh Mỹ, thì nó thuộc của chúng tôi! Chúng tôi muốn làm gì thì làm đừng ai xía vào mà tranh chiến lợi phẩm này! Chúng tôi đổ máu, bây giờ chúng tôi hưởng! Giời ơi! Các cụ Hùng Vương ngó xuống mà xem! Không có máu xương, của cải tài trí của nhân dân đóng góp hy sinh trải thây làm đường thì họ ở đâu? Mà giờ đây lính Mỹ có đài tưởng niệm trên đất nước hàng năm được đón tiếp xoa tay. Còn đồng bào họ chết oan nghiệt không có được nấm mồ, nén hương. Mất mát không được đền bù tưởng nhớ! Ðất nước là di sản chung của cha ông tổ tiên để lại. Thành quả là mồ hôi, nước mắt, máu xương của nhân dân chứ của riêng của tây ở nước Pháp, nước Mỹ nào lấy về cơ chứ! Thằng Tây, Thằng Mỹ nó đến Việt Nam, nó ngồi nó nói chính trị oang oang, nó mặc tà lỏn, nó cười hô hố, nó vào những nơi nghiêm trang tác phong ăn mặc như vào nhà xí; chụp hình viết báo nói đủ thứ vấn đề. Các ông Công An Nội Vụ cứ giả vờ lờ đi. Ðồng bào ruột thịt mà có mở lời chân chính. Các ông Công An xấn vào chịt họng dắt đi!

Có ai ở ngoài này nhìn chung quanh mình để thấy cờ Trung Cộng tung bay, mặt hàng, sản phẩm Trung quốc đầy tràn khắp các siêu thị Mỹ, Úc, Anh Pháp v.v Những đoàn văn công, văn nghệ, xiếc của Hoa lục lưu diễn trên khắp Ấu Mỹ, mà phong trào đòi dân quyền, nhân quyền cho nhân dân Trung quốc có vơi đi đâu? Có ai bị tuyên truyền của Trung quốc mà nghĩ rằng nhà cầm quyền Trung Cộng thật tâm tôn trọng nhân quyền không? Hay càng ngày người ta càng thấy những biểu tình đòi hỏi quyền làm người lan rộng và can đảm hơn, nhân dân Trung quốc có điều kiện kỹ thuật kinh tế hơn, ý thức hơn, phối hợp tổ chức hơn như Pháp Luân Công chẳng hạn... Hay là lại đổ thừa rằng người Hoa không có "thuyền nhân tị nạn", lập trường chống Cộng rõ rệt!

Có người đảng viên, cán bộ nào trong nước nhìn lại những đồng bào, đồng chí mình thân tàn ma dại, gia đình phải làm thân tôi mọi cho tư bản ngoại bang bóc lột, mắng chửi hành hung không? Cờ "đế quốc, thực dân" tung bay trên nền trời thủ đô, trong những khách sạn, nhà hàng sang trọng đầy những "đồng chí kính yêu" cùng ngoại nhân dạng chân cụng ly trên mồ hôi nước mắt của đồng bào mình không? Một buổi hưởng lạc của chúng bằng cả mấy trăm ngôi nhà "tình nghĩa" đó đây! Có thấy chị, em, con gái, cháu gái mình nhẫn nhục phục vụ khắp nơi trong những nhà nghỉ, quán bia ôm, Karaoke; hay làm "dâu" người nước ngoài để đổi lấy miếng cơm cho cả gia đình hay không? Có thấy con cháu của những đồng chí mình lang thang đánh giầy, thất thểu làm ma cô đưa đón khách cho mẹ, cho chị, cho em mình hay không? Trớ trêu thay, không phải nói là cay đắng mới đúng, một điều là đa số các trẻ lêu bêu đánh giầy ở thủ đô Hà Nội lại từ quê Bác ra đi kiếm cơm độ nhật đấy các đồng chí ạ!

Ðồng chí đừng "cáu" tôi nhé! Ðừng vội vã bảo tôi hàm hồ nhé! Tôi không phải chính trị gia, nhà báo tung tin vịt, hay là tay sai ngoại bang, thế lực phản động tuyên truyền hư cấu! Tôi chỉ nói lên những gì mắt thấy tai nghe! Ðồng chí quên ư? Tôi nhắc đồng chí nhớ nhé! Ðồng chí có còn nhớ cô bộ đội trẻ cầm súng trường dẫn tên "giặc lái" Mỹ lêu nghêu không? Tôi đã thấy trên màn ảnh truyền hình ảnh cô rưng rưng thẹn thùng nhận quà của kẻ cựu thù, khi tên phi công này về Việt Nam tìm cô trong căn nhà khốn khổ, nghèo nàn!

Sư nhà anh! Anh đã là đồng chí với chúng tôi hồi nào mà gọi thế! Thưa có chứ! Người Việt Nam tranh đấu cho tự do, dân chủ, độc lập, ấm no hạnh phúc cho nhân dân đều là đồng chí phải không ạ! Ðâu cứ phải đảng viên mới là đồng chí! Mà cũng chẳng sao! Các anh đã độc quyền yêu nước thì chữ đồng chí cao đẹp này các Anh muốn chiếm giữ, cứ giữ tôi chẳng cần. Tôi làm đồng bào Việt Nam! Ðố ai dám lấy của tôi. Kể cả ông Trời, nếu có!

A ! Sư nhà mày! Mày ăn tiền mấy trăm đô của xê i a (CIA) hay xê i bê (CIB) mà nói nhăng thế!?? Mày về đây, chúng ông cho mày một trận nhừ tử! Dạ thưa không sao! Nhà nước cứ cấp chiếu khán thì tôi cứ về! Ðất nước tôi, đồng bào tôi chứ ai đâu! Mà cứ phải gì một mình tôi các Anh mới cho một trận nhừ tử! Ông Hà sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh, Dương Thu Hương, Lê Hồng Hà v.v đang chịu đấy! Tôi không bằng họ nhưng ai chẳng một lần nhắm mắt. "Bác Hồ" cũng còn phải đi gặp các "cụ cách mạng" Karl Marx, Lênin cơ mà! "Cụ Diệm" cũng đã đi gặp Chuá rồi! Còn tôi chỉ mong gặp các cụ tổ Hùng Vương, cụ Nguyễn Trãi mà không mặt dầy mày dạn, thần thảm thương là thanh thản mãn nguyện rồi! Ðầy đọa thì cả dân này đầy đọa rồi còn gì! Dẫu rằng "thịt da ai cũng là người"!

Tôi ngờ rằng nhà cầm quyền Việt Cộng chủ trương đưa nghệ sĩ và các mặt hàng nghệ thuật ra ngoài này không chỉ là tuyên truyền, hay giới thiệu nét đẹp dân tộc quê hương mà thôi đâu ! Hơn thế nữa, cốt lõi của nó là dùng sự cực đoan, nghiệt ngã của người Việt hai bên để tạo thêm hố chia rẽ, lòng thù vặt và đố kỵ nhau: Chia để trị mà lị. Vô hình chung đám người bộ chính trị ngồi rung đùi đâu đó nhìn người Việt đánh đấm, bêu riếu nhau. Không phải đơn giản tự nhiên, hay chỉ vì "nghèo đói" mà người trong nước thường có thái độ "mõi tiền" cho đáng và "khinh" Việt Kiều như tôi đã thấy. Dĩ nhiên phải kể đến những nguyên nhân đố kỵ, ganh tị như nhà văn Văn Thanh đã kể trong "Gái Hà Nội Khóc Ai" nữa! Chuyện gì sẽ xảy ra trong tình đồng bào nếu Việt Cộng trung bình 3 lần một năm cho đi lưu diễn, trưng bày nghệ thuật ở những nơi có đầy "hùng khí chính nghĩa tị nạn" hay Ẫthủ đô người Việt chống CộngỮ?! Ðể trêu tức! Cho chúng mày cắn xé nhau! Thế thôi!!!

Cha mẹ cái thằng này! Mày ăn phải "bả" con đảng viên nào mà ăn nói lạ nhỉ! (Người thân quen tôi ở Úc này quả là nghĩ như thế đấy! Có vui không?!). Dạ thưa không dám ạ! Quí vị có thấy đâu đó đã có người dân trong nước phản ảnh bực bội về thái độ nông cạn, cực đoan ở ngoài này là "mấy ông mấy bà chỉ biết căm thù Việt Cộng mà không thương Ðồng Bào" và rằng "Mấy ông mấy bà chỉ muốn có tiền hơn để về huyênh hoang với chúng tôi, mà không cho chúng tôi có cơ hội như mấy người. Mấy người sợ mất thế thượng phong!" Ôi nghe sao mà nó đau thế cơ chứ! Người bình dân họ có lý thuyết chính trị chính em làm gì đâu! Nói như ông Hoàng minh Chính hay Phạm Quế Dương gì đấy, Họ, người dân chỉ nhìn vào mâm cơm hàng ngày của họ mà so đo tính toán, nhận định. Ðúng hay sai, đấy cũng là lòng dân. Làm chính trị khôn ngoan phải lựa lòng dân mà làm! Tôi, một kẻ hay nghĩ miên man, ăn nói tản mạn, xin miễn phán xét họ! Chỉ lan man nghĩ rằng họ có vẻ đúng!

Dĩ nhiên sẽ có những người tin rằng nhờ đảng anh minh sáng suốt có công "mở cửa" cho nhân dân hưởng xe, đài, vi tính, đủ các mặt hàng gia dụng, xa xỉ mà trước đây từng là quốc cấm v.v. Ðến nỗi dân miền Nam đã có một câu chơi chữ rất hay: Nhà nước, Ðảng cái gì cũng "bắc (t)", chỉ có cái "cầu" cho dân đi thì hổng "bắc". (Người miền Nam không phát âm được âm T cuối mà dùng C, cho nên "bắc" và "bắt" giống nhau!) Như ông bạn cán bộ kiến trúc xây dựng của tôi, khi ngồi uống trà với một số sinh viên tạm trú:

" Anh phải thấy nhà nước và đảng có công sáng suốt mở cửa mới được như vầy! Ðời sống nhân dân cải thiện hẳn. Anh em mình mới có cơ hội gặp nhau nói chuyện cởi mở". Tôi vừa cười vừa nháy mắt với các cháu sinh viên trả lời:

" Vâng đúng vậy Anh ạ! Như vậy Anh cũng nên kết tội và chửi cha, chửi bố đứa nào đã tối dạ đóng cửa cả chục năm, đem chúng ra mà hài tội nữa mới công bằng!". Ông bạn tôi đực mặt ra và lảng chuyện, đi chêm thêm bình trà! Cái lảng chuyện rất "Bắc".!!!

Trên đường đi ra quán cà-phê, các cháu sinh viên bá vai tôi phê bình :" Sao chú đanh thế! Tụi cháu biết thừa chú ạ" Rồi các cháu kể cho tôi nghe chuyện dân Hà nội ban đêm đội nón lá lên đầu tượng Lê Nin, với câu ca dao :

" Lê Nin mày ở bên Nga, cớ sao mày lại chạy qua Ba đình!".

Rồi nhân nạn lũ lụt đang hoành hành ở miền Trung. Các cháu còn dí dỏm đọc cho tôi nghe câu ca dao mới :

"Mất mùa là tại thiên tai. Ðược mùa là bởi thiên tài đảng ta"

Và rồi chú cháu tôi bù khú với nhau cả ngày hôm đó. Tôi cũng kể cho các cháu tôi nghe cái "bệnh" mất gốc của Việt Kiều thí dụ là một tổ chức nào đó lấy tên là Nghĩa quân Tây Sơn, mà chủ đích trong đó có "bảo vệ danh dự nước Mỹ" nũa cơ! Các cháu sinh viên trố mắt nhìn tôi lạ lùng:

"Sao lạ thế hở chú, sao người Việt lại bảo vệ danh dự nước Mỹ".. Tôi ỡm ờ đá giò lái :

"Người ta là người Mỹ gốc Việt, mang nặng ơn cưu mang! Ắn cây nào rào cây nấy! Cũng như mình ở đây cứ đòi bảo vệ thành trì XHCN và thành quả cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại vậy mà!".. Thế là chúng nó khựng một tí rồi khúc khích:

"Chú đi ra ngoài lâu rồi mà vẫn còn hơi bị hâm đấy! Tụi cháu bài vở thì phải học thôi!"

Ôi sao thân thương đến thế! Mà đau thế nhỉ!? Tôi ngồi viết lại kỷ niệm bé bỏng này mà vẫn cứ xót xa! Chừng nào chú cháu, thày trò tôi mới phải hết "cảnh giác", "so đo", đấu lý với nhau! Ðồng bào tôi gặp nhau không còn phải gầm gừ ,thủ thế giữ vững lập trường trước khi bắt tay với nhau...Và sẽ không phải lôi những đứa "hàng xóm" theo làm hậu thuẫn để chống nhau... Mà sẽ lo lắng cho nhau, chúc tụng nhau, thương yêu kính trọng nhau, phê bình nhau thoải mái...

Kinh nghiệm nho nhỏ này cho tôi thấy được giá trị hai chiều của việc giao thương mở của rộng rãi. Nhất là ở góc độ mình vì nhân dân mà "thấy". Nếu chúng ta "ra đi đừng mang theo quê hương", "chúng ta mất hết đừng để mất luôn nhau", mới thấy.

Mà đâu phải chỉ có cái tỏn mỏn thấy được ở những lần về như thế! Cũng nhờ "mở cửa, đổi mới, giao lưu", tôi mới đọc được những kinh nghiệm, hiểu biết của Phạm Quế Dương, Lê Giản, Tú Sót, Hoàng Tiến, Người Lính Già v.v Và gần đây "vô tình" qua mạng liên-tín "Ðối Thoại" tôi mói được đọc ông bà Trần Khuê. Mới thấy mình ngu muội sai lầm đã dương dương tự đắc nghĩ rằng chỉ có ông Việt Kiều như tôi đi ra ngoài này mới thấy hết, biết hết. Chứ cái "đám người" trong nước lạc hậu bị bưng bít thì biết gì! Tôi bỗng thấy mình giống như cái đám người hạch hỏi quá trình tù tội của nhau, cứ như là ở tù càng lâu, bị đánh đập càng nhiều, thì thông minh ra và quán triệt, thông suốt thiên hạ sự vậy!!! Thế có khiếp không?!

Tôi không chỉ thấy được cái hồ đồ võ miệng, hung hăng của mình ở xứ pháp trị tràn đầy tự do ngôn luận này, mà vui đến ứa nước mắt khi đọc bài của các vị ấy, đọc suốt đêm. Tôi thấy mình khiếm khuyết đã không nỗ lực tìm "ma, quỷ" dẫn lối đưa đường để gặp những vị này mà học hỏi trao đổi. Dân Tộc vẫn còn nhiều những tấm lòng, bộ óc sáng suốt. Tôi đọc Hội Thảo Việt Nhật, Hội Thảo Gia Long, Chỉnh Ðốn để Tồn Tại...[16].Những kiến nghị, cảm nghĩ của cựu đảng viên v.v của những quí vị "chưa triệt để" ấy mà ngỡ ngàng hết sức. Thế mới thấy các chú em tôi dù bù khú và tếu nhưng cứ đúng: "Ở đâu cũng có Anh Hùng, Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên!"

Phải thú nhận tôi đã thấy các bác tài xế xe đò, xe "ca" ở Việt Nam họ lái xe, lượn vòng để tránh né công an giao thông hau háu chụp "vi cảnh" kiếm tiền. Hay tuyệt vời. Các chú xích lô trong lúc chở khách, chở hàng nặng nề, họ luồn lách giữa đám hỗn loạn xe cộ thành phố, để đưa khách hàng an toàn nhanh gọn đến nơi, tránh "lãng phí" mồ hôi đồng tiền vợ con đang trông chờ vào tay những tên cướp ngày. Họ tài thật. Nhưng những cây viết ở Việt Nam, để tồn tại và ung dung "chuyên chở" những mặt hàng tinh thần văn hoá "nặng nề" tới nhân dân, họ còn phải tài tình hơn nữa. Công An, bọn bảo vệ tư tưởng văn hóa nó biết thừa! Nó có răn đe đấy chứ! Nhưng không thể muối mặt làm càn như thời Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Lê Ðức Thọ nữa rồi. Cũng một phần do giao lưu, giao thương, mở cửa đấy chứ! Mà ít ra cũng thấy các ông Công an "trí thức" hơn một ít rồi đấy! Cũng biết gõ vi tính, đọc mạng, thấy thiên hạ thì đầu óc phải mở ra chứ!!!

Tôi cảm nhận được nỗ lực, nhu cầu cần tách Chế Ðộ, Cầm Quyền ra khỏi Nhân Dân ẩn tàng trong những bài viết: Ngụy quyền Sài Gòn và nhân dân Việt Nam, Phỉ Quyền Cộng Sản Hà Nội và Nhân Dân miền Bắc. Gíới lãnh tụ, lãnh đạo say quyền bính và toàn bộ nhân dân Việt Nam. Và trên hết cái khát vọng khẩn thiết: Dân chủ, tự do ngôn luận, báo chí.

Ở đâu đó cái cung cách lập luận để đánh giá Lãnh Tụ, Lãnh Ðạo, đã có phần dựa trên chính sách có tôn trọng Dân Chủ, Dân quyền hay không! Có tạo hạnh phúc tiến bộ cho nhân dân đất nước hay không! Ðã ít dần đi cái lối dựa vào những "đức tính, cư xử cá nhân" của lãnh đạo, lãnh tụ mà khen chê, mang mầu sắc Ðức Trị.

Quả thật soi Việt sử ta cũng đã thấy nhân dân ta đánh giá Ðức Trần Hưng Ðạo, Nhân Tông v.v nhà Trần ở chính sách đối với dân với nước, chứ không qua, hoặc rất ít, những thâm cung bí sử, loạn luân. Ðức Trần Hưng Ðạo, khi còn là Trần Quốc Tuấn đã đang đêm trèo tường đế "thăm" bà Cô ruột (em bố) mình. Sau này lấy bà Cô ruột làm vợ. Dĩ nhiên là theo "lệ" nhà Trần.

Nhân dân Việt Nam thời xưa mà như thế, đã có những nhận xét về những nhân vật lãnh đạo chính trị, dựa vào bằng chứng hạnh phúc ấm no, tiến bộ của xã hội, nhân dân, đất nước. Dù vì lý do gì đó theo kiểu "Ðức trị" vẫn cứ nêu những "thần thoại" về làm việc chăm chỉ, yêu thơ, bình dị, tử tế cá nhân để nhận định, khen chê. Nhưng không vì hoặc rất ít nỗ lực để bênh vực chế độ. Vì thật ra nếu chỉ nêu lên những "truyền kỳ" như thể để chứng minh sự chính đáng của một nhân vật, một chế độ, thì chỉ là những chỉ dấu của xúc cảm, thiếu tính lý luận khách quan khoa học. Nếu không nói là thiếu thành thật, hoặc đích thị là "bồi bút". Ôi người xưa và nay kể có khác nhiều! Ai bảo tiến bộ chứ nhìn ra thì cả đám con cháu bất hiếu, bất mục, bất kính, mặt mày lơ láo...đi dật lùi!!!

Nguồn gốc: Ảnh hưởng hủ nho ăn quá sâu: chữ "Mệnh" chữ "Trung"

Ðất nước ta khởi thủy kiến tạo ý nhiệm tôn thờ gia tiên, sông núi. Sau đó Ông Cha ta đã chọn tư tưởng Phật Giáo vào trong đời sống. Nhưng Nho giáo đã đến cùng sự xâm lược của Trung Hoa mang theo tính thống trị và đã cùng hệ thống cai trị "ăn ở" trên đất nước ta đã quá lâu. Nó ăn rễ vào tim óc của nhân dân, tàng phục trong não trạng lề lối tư duy. Cho dù đến nay đã suy yếu trên phương diện chính thống vẫn còn nặng nề trong suy nghĩ của mọi người. Nó đã trở thành những "triết lý sống" không tên, những "luân lý" cai trị, những "khôn vặt" lý lẽ, ẩn tàng dưới nhiều danh xưng trong thời cận đại đến nay.

Những ông vua phong kiến ngày xưa của ta hành xử theo quan niệm "Thiên Mệnh". Ông ta lên làm vua là vì có ông trời trao cho gánh nặng, Mạng Trời mà! Như thế để bố bảo ai dám cãi lại, chứ chưa nói là chống lại. Và vì Ông được mệnh Trời cho nên ông tự kỷ rằng mạng số của ông là "Mệnh Rồng" cho nên mới được trao "tận tay" như thế. Hay trong tôn giáo, bọn buôn "Thượng Ðế" gọi là được "mặc khải".

Căn bản trong tiềm thức của hầu hết mọi người, Vua, quan, Sĩ phu, nhân dân đều nghĩ là như thế. Cho nên ông Vua bất cần "Dân Mệnh", ông ta chỉ nói chuyện với Trời thôi (đăng đàn, cúng vái gì đấy). Và dân chúng cũng không thắc mắc là Ông Vua có Mệnh của chúng tôi hay không. Người Dân theo gió thuận mưa hòa mà "đoán" rằng Ông Vua có được lòng trời hay không.

Và chính vì nghĩ như vậy mà kể cả người cai trị lẫn ngưởi bị trị đều đem quan niệm Ðức Trị để xác định tính chính đáng trong tương quan chính trị. Chúng ta cần nhớ là chữ "Chính" trong Chính Trị, Chính Phủ, Chính Quyền, mang một ý nghĩa đặc biệt là "tính chính đáng, sự ngay thẳng, đúng đắn, đối ngược lại với Ngụy". Ðức cơ bản là những nguyên nhân, hậu quả từ hành trạng của mỗi cá nhân, tương quan đến những cá nhân khác. Lấy cái Ðức ra mà Trị (Chữ Trị là làm yên ổn, đối ngược với Loạn) cả xã hội thì đúng là theo kiểu hên xui may rủi. May có ông minh quân, còn được miễn thuế 3 năm, không may ráng chịu. È cổ ra mà gánh! Không được cãi mệnh trời! Sẽ là loạn thần, tặc tử!

Kẻ cầm Chính, giữ Quyền tranh thủ thuộc cấp theo quan niệm "Ðức Trị" bằng những thủ đoạn ban phát ơn huệ, trừng phạt cá nhân, rỉ tai, truyền tụng, hay "trình diễn" những màn hiếu, đễ, thương nhi đồng, yêu cây cỏ, quí súc vật; hoặc chăm chỉ làm việc, tư lự bên bàn giấy, ăn uống giản dị v.v (Dĩ nhiên là trước ống kính, nếu là thời nay!) Hay lâu lâu kinh lý phát chẩn cho dân...Nói như Ông Cao Bá Quát là lâu lâu họ cho dân từng thìa cái mà họ lấy của dân từng đấu! Và bắt dân phải đời đời nhớ cái ơn "vĩ đại" ấy của họ!!! Họ nghĩ dùm dân, gạn lọc thay dân, chọn sách vở cho dân đọc, chọn phim ảnh cho dân xem, thậm chí chọn vợ, chọn chồng cho dân, quyết định sự yêu ghét của dân thay dân....Thế là họ độc đoán thản nhiên như một thiên mệnh của ông trời con thay trời hành đạo. Ông Vua còn phong Thần cho làng cho xã nữa cơ! Như tòa thánh La mã trung cổ đại diện ông Trời, thượng đế, quyết định đúng sai, bảo ai là thánh, quy ai là quỷ, kể cả lúc sống và khi chết. Họ là giáo hoàng, là vua, là thượng đế trần gian. Dân chỉ là hạng ngây ngô dại dột như "con đỏ". Bảo sao nghe vậy! Trên bảo dưới nghe! Không được cãi ... Người trên bao giờ cũng đúng! Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung. Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu... Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư! Cứ thế nó kéo dài đến bây giờ! Mà ở dạng chính trị, chính sách mới bỏ cha người ta chứ!!.

Nhìn vào hiện trạng đất nước dân trí Việt Nam trong thế kỷ 20 và ngay đầu thế kỷ 21 này, ta thấy có khác hơn không? Thưa có khác gì đâu! Các ông lãnh tụ, lãnh đạo đều cho mình cái "thiên mệnh" cả. Ông Diệm, theo lời kể của ông Trần Trung Dung, cháu rể, cựu bộ trưởng Quốc phòng đệ nhất cộng hoà, tự cho mình làm tổng thống đâu có khác gì làm vua đâu!?? Hồ chí Minh, làm chủ tịch tự nhận qua Trần Dân Tiên là "cha già của dân tộc" cơ mà! Cha già thì phải chờ cha chết! Cha chết thì cha để di chúc lại cho lớp kế vị như Tiên Ðế làm lúc trước khi "băng hà" vậy mà! Chứ có phải Chủ Tịch theo kiểu dân bầu có nhiệm kỳ đâu! Nghĩ đến cái cảnh Cha Già Dân Tộc băng hà được kể trong "Mặt Thật" của ông Bùi Tín, tôi có cảm giác "lâng lâng" như đang đọc Tam Quốc chí, hay Lộc Ðỉnh Ký vậy! Còn đọc các hồi ký viết về "cụ Ngô" và "nội các" của ông cùng với lối văn, diễn đạt của các tác-giả tôi có cảm tưởng giống như đọc một đoạn sử Triều Nguyễn nối dài.

Chưa hết đâu! Lãnh tụ chí sĩ còn như những ông "thiên-tử" là ta không hề sai cơ! Một lời nói ra là khuôn vàng thước ngọc phải được học hỏi xưng tụng nữa đấy! Mà nếu có sai thì lãnh tụ, chí sĩ được quyền sai! Chỉ xin lỗi, nhận khuyết điểm qua loa là xong chuyện. Hàng chục nghìn người bị tử hình oan khuất, hàng trăm ngàn người cửa nát nhà tan, luân thường đảo ngược bởi lệnh, chính sách đấu tố của Lãnh tụ! Lãnh tụ với vài hàng nước mắt, với vài lời xin lỗi của ông Ðại Tướng! Thế là xong! Huề cả làng. Hàng ngàn người, kẻ chết thảm, người bị đánh đập, tù tội vì niềm tin vào Phật giáo vì chủ trương của chí chí sĩ ngoan đạo! Tổng thống nhận sai lầm và xin hòa giải! Xong! Ai về "nhà tù" người ấy! Tổng thống vẫn cứ muôn năm. Chứ nhân dân, nhân sĩ mà có ai sai thì án này án nọ, tội trạng này kia. Mà họ có sai đâu! Họ đòi những cái đúng mà lãnh tụ, chí sĩ "phán" họ sai để tru diệt đấy chứ .Tử hình, tịch biên tài sản, rồi kéo theo cả họ, cả mấy đời, ngóc lên không nổi với cái lý lịch đã "hoen ố" trong tay công an nội vụ. Còn hơn tru di tam tộc thời phong kiến.

Tôi đã đi vào viện bảo tàng lịch sử Hùng Vương ở chân núi Phú Thọ, đền Hùng. Bên trong có dán trên cao một câu "Dân ta họ Hồng Bàng, Nước ta là Văn Lang" ở dưới ghi: lời Hồ Chủ Tịch! Tôi quay lại hỏi cậu hoc trò: " Vậy nếu Bác không nói câu này thì Dân ta họ gì, Nước ta tên gì?" Giời ạ! Tôi không còn từ để diễn tả cái tình cảnh này nữa!

Ôi ! Sau này con cháu Việt Nam, giòng giống Lạc Hồng đọc lại Việt sử thế kỷ 20 sẽ tưởng là Xuân Thu Chiến Quốc mới hãi sợ làm sao!

Ðứa nào trong đám cận thần, kẻ nào trong đám nhân dân mà không "đời đời ghi nhớ công ơn Hồ chủ tịch vĩ đại" thì chỉ là lũ phản bội ,phản động, tay sai đế quốc, bị CIA mua chuộc! Tên nào trong đám con cháu cụ, hay công dân Cộng Hoà mà không "đời đời ghi ơn Ngô Tổng Thống", thì chỉ là một lũ phản phúc, ăn cháo đá bát, ăn cơm quốc gia thờ ma Việt Cộng! Cứ thế. Dù nó không thể bịt mồm được ai nữa nhưng cũng làm cho lắm người chậm mở miệng nói lời thẳng thắn.

Ðến giờ phút này ở thế kỷ 21 mà Ðảng vẫn trông coi quan hệ yêu đương, "tìm hiểu" của cán bộ cơ đấy. Như bậc cha mẹ nho phong đấy chứ! Có tin được không???

Tôi về thăm đứa học trò ,đã ra trường với đề án ưu hạng kỹ sư Xây dựng, ở Phú Thọ, nơi có đền quốc tổ Hùng Vương. Nghe thân phụ cháu bảo có cậu anh của cháu đang là bộ đội truyền tin. Tôi hỏi cậu ta đã lập gia đình chưa. Cả nhà nhẹ nhàng trả lời: Dạ em nó đang được tổ chức cho phép tìm hiểu một cô! Tối đến ông bố lôi ra một tập nhật ký dầy. Ông nuối tiếc tâm sự với tôi về những bài thơ ,về mối tình thời ông còn trẻ. Trong bất kỳ bài thơ nào gửi cho người yêu, đều "phải" có những câu tương tự như, "tình Anh trao em có Ðảng xét soi! Hay là "Sự rung động đầu tiên cho Ðảng, mà bồi hồi thấy ánh mắt Em", Hay là "vẽ hình Bác bằng cả trái tim, vẽ hình em bằng cả lòng thương nhớ" v.v

Tôi không thể nhớ hết và không dám nhớ hết. Bác, Ðảng theo đôi tình nhân đến tận giường, hay chính họ đem Bác và Ðảng đến tận nơi thầm kín??? Tôi nghĩ là cả hai. Giống như trên đầu giường ngủ của người Ấu Mỹ có cây thập giá vậy.

Ngày xưa, Vua yêu ai có quyền cho mang họ vua, thế là kẻ mang họ Vua hỉ hả sung sướng! Nay đọc báo Nhân Dân thấy đăng có xã làng được hãnh diện mang họ Bác, Thành phố hãnh diện mang tên Bác.

Phải chi Khổng Tử "can đảm hay sáng ý" hơn một tí mà phán rằng Vi chính dĩ "Ðúng" thì đỡ cho dân Á Châu quá, ít ra là bốn dân tộc đồng văn hóa (Trung hoa, Ðại hàn, Nhật bản và Việt Nam). Như vậy có thể bốn nước này đã có dân chủ pháp trị từ lâu, tiết kiệm thời gian tâm sức. Vì "dĩ Ðúng" tức là theo pháp luật mà hành xử thế thôi.

Thuộc cấp thì cố giữ lấy chữ "Trung" hạn hẹp, lấy lòng thượng cấp.. Cho nên khó thay chủ, hoặc thấy sai vẫn phải "vớt vát", hoặc "nói mưa Ðiện Biên để lay cây Hà nội" mà thôi. Trung thần bất sự nhị quân v.v Quan niệm "trung" biến dạng thành "vững lập trường". Ở cả hai bên. Nếu ai nhìn ra được cái dở của lãnh đạo, chế độ mà tự thay đổi liền bị ghép là "chao đảo, mất lập trường", phản phé! Không đáng tin cậy! Ở đâu đó tôi có đọc Duyên Anh "mắng" mấy ông nhà văn chiêu hồi như thế đấy!

Và tôi hiểu được rằng tại sao người ta, phải nói là đồng bào tôi cho nó rành mạch rõ ràng, khó gỡ được cái vòng "kim-cô" quá khứ. Vì trong tiềm thức của họ, bỏ một bên mà mình đã hết mình đi theo đã "không ổn", huống gì lại phải "bêu riếu" những gì mình đã tin nữa thì còn chi là "nhân cách"quân tử. Quân tử tuyệt giao bất xuất ác thanh! Ðói rau rừng thấy thóc Chu mà trả! Cứ thế! Nhân cách với ai, cũng chẳng ai giải thích cả! Họ lẫn lộn cung cách cư xử, cái Nghĩa, cái Trung tương quan cá nhân trong Nho giáo với cái trọng trách của con người với toàn thể nhân quần xã hội; với đất nước dân tộc.

Gia đình tôi nói theo kiểu Gia-tô là "đạo ròng, đạo gốc". Nhưng cụ Ông tôi thì ghét "Gia Tô" cực kỳ. Ông để con cái toàn quyền chọn lựa "niềm tin". Thế là cụ Bà tôi cùng các chị tranh thủ "truyền đạo", "giữ đạo" cho các em. Tôi nhớ khi ấy tôi độ hơn mười tuổi, vì học đệ thất, đệ lục rồi. Nhân một buổi tối thứ bảy. Ông Cụ tôi ngồi uống trà trên ghế. Bà Cụ nhắc khéo tôi lấy quần áo cho chị là để mai đi "lễ" chủ nhật. Tôi không chịu và cãi rằng tôi không "theo" (bắt chước thần tượng Bố). Cụ Bà gắt bảo đạo của cha ông thì phải theo. Tôi hỏi ngược lại Mẹ tôi rằng trước khi Tây vào thì các cụ Tổ mình theo đạo nào? Thế là bà Cụ mắng "Tiên sư nhà mày,có cút đi ngủ không! Ở đó mà lý sự!". Tôi thấy ông Cụ tôi mỉm cười hóm hỉnh. Ðúng bài bản của cụ Ông còn gì! Nói vậy chứ bà Cụ tôi, con gái út ông Ðồ nho nhưng cũng thuộc loại tiến bộ rộng rãi. Cụ chỉ tranh thủ qua tình thương Mẹ con chứ không ép uổng gì. Cụ thương tôi lắm! Người chưa bao giờ đánh tôi một roi. Những ngày tha phương một thân một mình trên đất khách. Cụ vẫn bảo em gái viết thư hỏi xem tôi ăn ở, giặt giũ, tắm rửa ra sao mà tuyệt không nhắc đến chuyện "đạo" gì cả. Còn tôi, dù không tin gì ở Gia Tô cả, cũng cố gắng nhờ bạn xin cho được cái "tràng hạt được làm phép" bởi ông giáo chủ Gia Tô lần qua thăm Úc năm 1985-86 gì đấy, gửi về kính biếu Mẹ. Sau nghe cô em bảo lại, Mẹ tôi, lúc Người nhận được, Người sung sướng, cảm động lắm!!! Thế mà những ngày Người nằm bệnh, rồi mất không về được để nhìn mặt, báo hiếu lần cuối! Có bất hạnh không! Có khốn nạn không!

Nhưng đối với những người "chung quanh", tôi là một "đứa" mất lập trường, yếu dạ, mất gốc, quên tổ tiên, không giữ truyền thống gia đình cơ đấy. Dù nhìn xa ra, Tôi theo Ông Cụ tôi, trở về với đường lối tổ tiên nguyên thủy: Gia Tiên, thờ ông bà cha mẹ. Dù đây là chuyện riêng nhưng nó tiêu biểu cho một phần "vấn nạn" dân tộc. "Luân lý" của câu chuyện như thế nào, tuỳ bạn đọc kết luận.

Ðại loại những lý luận, luận cứ trung thành, lập trường nó ngắn như thế đấy! Nhưng lại trải dài qua lịch sử đầy máu và nước măt của dân tộc này mới là điều đáng nói. Cứ như ông Trần Kim Tuyến đấy! Chỉ vì giữ "nhân cách" với Vũ Văn Mẫu và những người quen khác, nên đã không đủ can đảm viết lại những gì ông biết về thời gian chế độ Ngô Ðình Diệm. Không biết ông có thấy được sự trung thành, nhân cách của ông với đất nước dân tộc này hay không? Ông mất rồi! Tiếc quá! Còn những người khác, họ biết rất nhiều hay biết rất ít, nói như Duyên Anh, cũng vẫn cứ ôm mông lãnh tụ chí sĩ mà hót. Rồi chửi người khác! Một lần cầm tay lãnh tụ, đuợc bá vai vuốt đầu, chụp hình chung, hay phục vụ dưới trướng...Xúc động cả đời! Mà bây giờ quay ra vạch xấu, cái xấu thật chứ không bịa đặt! Thì "ê ẩm" nhân cách quá! Ngượng ngùng quá! Chưa nói là có thể bị đồng hoá là chạy về phía bên kia, cái bên mà mình từng đánh, từng chửi cơ mà.! Phản bội, đê hèn!!! Những cái "danh dự" hão, phù phiếm ấy nó cứ ràng chặt như Tôn Ngộ Không bị vòng Kim-Cô! Giả như ai cũng gỡ được vòng kim -cô như ông Nguyễn Minh Cần thì dân tộc này chắc chắn đúng dậy và chạy nhanh hơn nữa. Và như thế chắc chắn sẽ bắt kịp nhân loại với thời gian ngắn hơn.

Mười năm làm thành viên của một tổ chức "phục quốc" đã cho tôi hiểu ra cái đức "Trung" chính trị. Khi tôi thấy họ muốn chứng minh "thiên mệnh" thế thiên hành động, tranh thủ xây dựng đất nước, không để ai nhảy vào! Là tôi khiếp ngay! Việt Kiều, Việt Cộng chỉ khác một chữ!!!

Chúng ta phải kêu gọi chính chúng ta phế bỏ sự trung thành vào tổ chức. Chúng ta không có bổn phận trung thành với một cá chân, lãnh tụ, chí sĩ nào hết, dẫu họ có đại thiên tài! Chúng ta không bổn phận trung thành với một thể chế nào hết! Chỉ trung thành với ước vọng, quyền lợi của đất nước nhân dân, mà trọng điểm là Tự Do và Dân Chủ. Tất cả những tổ chức đảng phái nhân vật chỉ là công cụ của Dân Mệnh. Những công cụ này khi tác hại, hoặc không còn khả năng đáp ứng thi hành Dân Mệnh, chúng ta phải can đảm bỏ ngay, ly dị ngay. Học bài học thời Kháng Pháp thật rõ sẽ tiết giảm xương máu, tâm huyết cho nhân dân đất nước.

Nho giáo đã đóng góp tích cực trong tiến trình thăng hoa đời sống gia đình của Việt Nam là điều không thể phủ nhận; phát triển nhân cách cá nhân của con người nhân bản trong văn hóa Việt lại càng khó xuyên tạc..Nhưng đứng về phương diện tổng thể của cả một đất nước, sự phát triển xã hội, thì cũng chính Nho giáo đã kìm hãm, phá hủy nhiều tiềm lực hướng tiến của dân tộc Việt trong lịch sử cận đại lại càng khó bác bỏ. Ðụng đến cây "cổ thụ" này, tôi biết sẽ gây nhiều tranh luận. Và nó lớn lắm, một bài tản mạn tôi không dám tán ra. Xin có dịp khác... Chỉ xin được nhắc như một tiểu đề.

NguyênKhả Phạm Thanh Chương

(Viết xong phần này vào Ngày mùng 6 tháng 2 năm Tân Tỵ, Ngày Giỗ Hai Bà Trưng (28-02-2001)

Phần V : Dư Luận thế gìới

Sự thật phải công nhận rằng chưa bao giờ cụm từ "Dư luận thế gìới" nó có một "quyền lực" chi phối sự thật và hướng suy tư của người Việt nam đối với lịch sử, hiện trạng của chính đời sống họ. Nó hầu như tiêu biểu cho tính khách quan, tường tận nghiên cứu, chính xác. Tệ hại hơn nữa, người ta đã gán cho "dư luận thế gìới" một sức mạnh mà tự chính nó không thể có được: Lật đổ, thay đổi và chính đáng hoá một chế độ, một lối sống văn hóa của một dân tộc.

Cái "cụm từ" này đã làm người Việt Nam không còn tin vào chính mình nữa. Nhất là giới học nhiều, bằng cấp nhiều, khi phải chứng minh một cái gì đúng đắn, giá trị vẫn thường mở đầu và kết luận với cụm từ "dư luận thế gìới". Nó là gì? Chẳng qua chỉ là ý kiến xoay vần của một vài cá nhân, với những bằng cớ tỏn vẻn được cắt xén hoặc chắp vá cộng thêm với kỹ thuật phim ảnh, tiếp thị tinh xảo để đánh vào đa số quần chúng, mà ở xã hội tư bản dân chủ, là thành phần quyết định lá phiếu, trả thuế, vốn dĩ không có thời gian hoặc không thể có thời gian đối chứng hay lập luận xa hơn, vì tính chuyên môn của đề tài và kích thước của nó.

Sách báo, phim tài liệu VN: Television history, VietNam War, A Descent to Hell v.v Họ phân tích và nhìn một xã hội qua lãnh tụ và lãnh đạo. Họ không thể thấy được những nguyện vọng và nhất là những khổ tâm của người dân phải lựa chọn giữa hai lằn đạn để bám lấy quê hương. Không phải vì họ một lòng một dạ với chế độ.

Những suy đoán dựa trên một vài bức thư, biên bản họp mật để rồi cho rằng Hồ và Mao không có mộng bành trướng chủ nghĩa cộng sản; và rằng nếu Mỹ không bỏ Hồ chí Minh sau khi thế chiến chấm dứt., thì Việt Nam đã có tự do dân chủ vì không rơi vào quỹ đạo Cộng Sản! Những luận cứ này đã cố tình bỏ quên là Hồ Chí Minh đã chọn Lenin là thầy từ ngày lang thang trên đất Pháp. Ông Hồ đã coi những gì Lenin nói và làm từ những năm 1917 là kim chỉ nam không thể thay thế được. Chính ông Hồ đã lê lết đến tận Mạc tư Khoa để được diện kiến thần tượng. Tiếc rằng Lenin đã "qui tiên" chứ không thì bây giờ bằng chứng sẽ rõ ràng hơn với những tấm hình của "cụ LêNin" vuốt đầu choàng vai Ẫcậu nhỏỮ bác Hồ ôm hôn thắm thiết.

Làm sao một con người say đắm danh vọng quyền lực đến độ tự viết sách khen ngợi mình (Hồ Chí Minh, giả tên Trần Dân Tiên viết "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch"; Ra lệnh hãm hiếp và giết người chung chăn gối, mẹ của con mình (Hồ Chí Minh ngầm ra lệnh cho Trần Quốc Hoàn hãm hiếp rồi giết chị em bà Nông Thị Xuân, vợ của HCM và là Mẹ của Nguyễn Tất Trung con trai HCM); Giết những người đã giúp mình, nuôi mình như gia đình bà Nguyễn thị Năm (cả gia đình bà và các con đi kháng khiến, bà hiến cả gia tài cho công cuộc kháng chiến. Nhưng đều bị đem ra đấu tố tử hình.)[17] lại có thể là người yêu dân chủ tự do, nhân từ anh minh được cơ chứ !!!! Ðấy là chưa kể sự "thấu hiểu" và "thực tâm" xây dựng dân chủ của Hồ Chí Minh khi định nghĩa "dân chủ tập trung" cùng các cán bộ trẻ rằng :

"Như các cô, các chú có đồ đạc tài sản gì đó, thì các chú các cô là chủ, đó là dân chủ. Các chú các cô không biết giữ, tôi giữ dùm cho. Tôi tập trung bỏ vào rương. Tôi khoá lại và bỏ chìa khóa vào túi tôi đây. Ðó là tập trung![18]

Sau đó Hồ Chí minh còn dương dương tự đắc hỏi ông Bảy Trấn rằng: "Tôi nói như vậy có được không?" Ông Bảy Trấn chỉ còn nước trả lời "Dạ thưa, Bác nói thì thôi!".[19]

Ðấy! Coi thường trí thông minh của nhân dân như vậy. Ắn cướp sống sượng như vậy, làm sao mà có dân chủ pháp trị gì trong đầu cơ chứ. Thằng Tây, con Ðầm học giả, báo chí làm sao thấy được! Giả như là nó thật tâm muốn thấy đi nữa. Cả những trí thức học gỉa Việt nam chính cống còn chưa muốn thấy nữa chứ đừng nói người ngoài chi cho mệt. Hỏi Trần Quốc Vượng, Bùi Tín, Vũ thư Hiên đi thì biết ngay thôi...

Nếu những bằng chứng này chưa đủ thì cứ nhìn những nước không Cộng Sản được Mỹ cho đi theo xem có nước nào có dân chủ không? Trừ Nhật Bản? Từ Á Châu qua đến Trung Mỹ, Nam Mỹ nhân dân bị tước đoạt quyền làm người, bị bắt bớ không kém khác gì chế độ cộng sản. Phi luật Tân đi với Mỹ và với Marcos đấy, dân chúng Phi sống như thế nào? Tập đoàn cầm quyền ở Miến Ðiện theo ai mà dân Miến khổ lắm vậy??? Gần nhất hãy nói chế độ miền Nam được Mỹ tạo dựng dẫn dắt đấy, có tự do dân chủ không? Khi mà trong não bộ của lãnh tụ chí sĩ chỉ có quyền bính, quyền lợi phe phái thì dù đi với ai, có đặt thể chế tên gì đi nữa, phi dân chủ vẫn phi dân chủ. Nước Anh, nước Nhật, nước Hoà Lan, nước Bỉ v.v vẫn giữ thể chế quân chủ nhưng ai dám bảo họ phi nhân quyền, phi dân chủ??? Vậy cái "nếu" của những chuyên gia chính trị thế giới dù có thành sự thật đi nữa thì Hồ Chí Minh vẫn là Hồ Chí Minh với đầy đủ những vi trùng của độc tài, say đắm xưng tụng, quyền bính với cái cơ cấu đảng trị của ông ta, dù nó có thể không mang tên đảng Lao Ðộng hay Ðảng Cộng Sản mà là đảng Dân Chủ hay Ðảng Cộng Hòa đi nữa, thì chính sách chủ trương nhất quán của nó vẫn là thống trị và chà đạp quyền con người. Mà thật sự thì Hồ Chí Minh đã thay đổi tên đảng của ông như chính cái tên của mình, để che đậy tránh né nhận diện như con tắc kè bông trong lùm cây kháng chiến của dân tộc (Từ Ðảng Cộng Sản Ðông Dương, Nhóm nghiên cứu Marxism, Ðảng Lao Ðộng v.v). Quốc Dân Ðảng Trung Hoa với Tôn Dật Tiên nếu còn sống và lãnh đạo, chắc chắn khác với Quốc Dân Ðảng của phe nhóm Tưởng giới Thạch. Tưởng và gia đình của ông đã ngã theo Mỹ và được Mỹ ủng hộ. Ðảng Cần Lao hay Ðảng gì đi nữa được thành lập và dẫn dắt của gia dình họ Ngô thì cũng không thể khác hơn được. Và Nguyễn Văn Thiệu có lập đảng Dân Chủ thì cũng vẫn cứ ăn cắp tự do và quyền làm người của nhân dân mà thôi. Rắn đâu có đẻ ra Rồng được!

Hơn nữa chính trị gia và tài phiệt Mỹ đâu có chủ đích xây dựng tự do dân chủ ở những nước cựu thuộc địa đó. Quyền lợi kinh tế và chính trị của Mỹ đã chỉ đạo cho Mỹ giúp Pháp trở lại Việt Nam. Mục đích của họ là chống ảnh hưởng Liên Xô và Trung Hoa, mà những ảnh hưởng này đe dọa quyền lợi tư bản đế quốc của họ. Vì thế họ ủng hộ độc tài, khủng bố, đàn áp đảng trị, miễn là không theo Nga, Hoa. Họ đã từng ủng hộ và "nuôi" Sadam Husein. Và ngay bây giờ họ vẫn nuôi đám "tù trưởng" Trung Ðông mà không muốn những dân tộc này có dân chủ. Vì nếu những xứ sở ấy có dân chủ, làm sao họ sai khiến được giới lãnh đạo những xứ đó và xử dụng tài nguyên dầu hỏa theo ý mình được?

Họ truy tìm quá khứ không phải để tìm chân lý nhưng để xoa dịu, biện minh, cho quá khứ của họ. Ðể trút trách nhiệm cho lẫn nhau, giữa những khuynh hướng chính trị, chính sách toàn cầu của quốc gia họ. Và cuối cùng cũng chính vì quyền lợi đường dài của quốc gia họ. Tôi sẽ trình bày "tính khách quan, yêu sự thật" của họ ở phần "vấn đề Thế Chiến và Huyền Thoại thế gìới Tự Do".

Những người trẻ Việt Nam hôm nay nên tận dụng lợi điểm của mình để lý luận thấu suốt. Lợi điểm là họ, giới trẻ, không có hoặc ít bị quá khứ chi phối nhận thức và bằng chứng lịch sử. Có chăng chỉ là một ít liên hệ rằng buộc của tình cảm gia đình nhỏ nhoi khi đem ra so sánh với cả đại khối nhân dân đất nước.

Vấn đề Thế Chiến và huyền thoại thế giới tự do: Ðế qước mâu thuẫn, thực dân cạnh tranh..

Ngày hôm nay không ít người Việt Nam khi nhìn về thới giới sử vẫn mơ màng cảm phục phe "Ðồng Minh" chống "Phát xít". Do điều kiện kinh tế hùng mạnh, kỹ thuật phim ảnh phổ cập. Thực dân đã hầu như thành công trong việc xoá mờ tội ác của họ để trở thành Anh Hùng nhân loại.

Cái gọi là thế chiến thứ nhất thực chất chỉ là cuộc chiến tranh tranh giành quyền lợi giữa các thế lực đế quốc thực dân, của các ông hoàng, bà chúa. Không có dính líu ý nghĩa gì về nhân quyền, tự do hay thiện chống ác như bộ máy tuyên truyền của Tây Phương cố gắng tạo ra cả. Ở Úc châu ngày ANZAC được coi ngày kỷ niệm sự anh hùng chiến đấu cho lý tưởng tự do nữa cơ. Một huyền thoại truyền kỳ! Còn ở Mỹ "thì rêu rao "một cuộc chiến để chấm dứt chiến tranh" với hình ảnh anh hùng nhân đạo của tổng thống Woodrow Wilson.

Sau trận chiến bản đồ đế quốc Ấu châu thay đổi. Nhưng tình trạng đàn áp nhân quyền, bóc lột của họ ở các nước nhược tiểu gia tăng, tinh vi hơn, khôn khéo hơn. Cũng vì vậy cao trào tranh đấu của các dân tộc bị trị mạnh mẽ hơn và có quy củ hơn như ở Việt Nam, Nam Dương, Mã lai, Ần Ðộ v.v Những tổ chức kháng thực, kháng chiến nhiều hơn và tổ chức qui mô hơn.. Kiến nghị Tám Ðiểm của nhóm ông Nguyễn thế Truyền, Nguyễn Ái Quốc được trình vào giai đoạn này là một bằng chứng.

Ðế quốc thực dân ngoan cố không nhượng bước. Hiện trạng vi phạm nhân quyền, tàn hại nhân bản kéo dài đến thời điểm gọi là "đệ nhị thế chiến". Bản chất của cuộc chiến lần này cũng không khác vì bản hiệp ước Versailles không giải quyết được sự tranh chấp thường trực trong các thế lực, thể chế đế quốc thực dân và tương quan giữa những thế lực này. Nhưng lần này có khác với sự xuất hiện nổi bật của một ông da vàng đế quốc Nhật Bản. Cũng như trong trận chiến Ấu Châu lần trước, trong đó có đông đảo những quân lính của các xứ bị trị. Họ bị ép buộc tham gia, hoặc đi đánh thuê cho mẫu quốc. Không như những phim ảnh sách vở tuyên truyền của Tây Phương, của Hồ Ly Vọng, rằng "D Days V Days" là tiêu biểu của những chiến sĩ đã bỏ mình cho tự do của nhân loại, của thế giới! Mà hàng năm họ vẫn rêu rao. Sau năm 1945 với chiến thắng của Ðồng Minh, những dân tộc bị trị vẫn là nô lệ. Họ đã phải lợi dụng thời cơ suy yếu lúng túng của phe Ðồng Minh Thực Dân, để dành độc lập bằng chính xương máu của họ, dành lại Tự Do Ðộc Lập, Nhân Quyền từ tay "các chiến sĩ đấu tranh vì lý tưởng tự do nhân loại" người da trắng!!.

Xét về cả "khối lượng và chất lượng" tàn độc ảnh hưởng thiệt hại cho nhân loại. Tội lỗi của Phát Xít chỉ là con số lẻ nếu đem so với tội ác của thực dân. Ngày hôm nay chúng ta vẫn thấy phim ảnh lôi Phát Xít, Quốc Xã ra xỉa xói với những phiên xử quốc tế các tội danh chống nhân loại, hủy diệt nhân bản. Có tòa án nào xử lý trừng phạt những tên thực dân đầu xỏ như Winston Churchill, De Gaulle không? Người Việt Nam có còn nhớ rằng chính De Gaulle chủ trương tái chiếm cai trị Việt Nam không? Hay những người này đang được chiêm ngưỡng như những vĩ nhân vì lý tưởng tự do dân chủ của nhân loại??? (có một ông Giáo sư, nhà báo Việt gốc Mỹ đã lý luận với tôi rằng bọn thực dân nó có lý tưởng khai hóa!)

Tại sao lại phải bàn những vấn đề này trong tiến trình xây dựng dân chủ cho đất nước nhỉ? Xin thưa là vì vấn đề của quốc gia đã không chỉ còn nằm hoàn toàn trong biên giới của một nước nữa rồi. Nó luôn luôn bị giằng giựt bởi những thế lực quyền lợi phức tạp đa phương. Nếu không hiểu bản chất thật trong tương quan, quan hệ quốc tế, nhiều người sẽ vô tình đi vào qũy đạo ngoại nhân, hãm hại quyền lợi đất nước mà không hay biết. Phải nhận thức rõ rệt quyền lợi quốc gia của các thế lực, ta mới biết chỗ nào là thực sự quyền lợi của ta, hay bãi phục kích của ngoại nhân.

Người Việt Nam hôm nay đã mang nặng thành kiến phe phái. Người thuộc phe "chống cộng" thường có những thiện cảm không tưởng về Mỹ, bênh vực Mỹ một cách vô lối ngay cả những điều mà Mỹ đã thú nhận sai lầm. Người thuộc phe "công sản cầm quyền" lại thường có những thiên vị về phía Nga, Trung cộng kể cả khi hai ông thần "đỏ" này đã thú nhận những ghẻ lở của chính họ và đang ngồi xin thuốc Tây Phương chữa ghẻ!!!. Dù tình hình thế gìới đã thay đổi. Có bao nhiêu người Việt Nam nhìn được như John Pilger, hay ít ra đồng ý với Ông nhà báo "thân cộng" này. Trong quyển sách "Hidden Agendas" John Pilger nhận xét về vai trò Mỹ tham chiến tại VN, mà theo tôi, rất chính xác:

This myth endures alongside nonsense that reporters, by criticising the military effort, helped to "lose" the war for the Americans. In my experience, most jouralists had no objection to the "noble crusade", only to the wisdom of its tatics and the competence of, its executers. The war was almost never reported as an all-out American assault on the Vietnamese people, regardless of whether they were communist or non-communist, northerners or southerners; for that was the truth. (560)[20] (Cái huyền thoại kéo dài bên cạnh những vô lý cho rằng, gìới ký giả báo chí (Tây Phương), khi phê bình chỉ trích những nỗ lực quân sự, đã đóng góp làm ngườ i Mỹ thua trận (ở Việt Nam). Theo kinh nghiệm của riêng tôi, hầu hết gìói ký giả đã không phản đối "cuộc chiến cao quí" (cuả Mỹ ở VN), mà họ chỉ phản đối tính sáng suốt trong những chiến thuật dùng trong cuộc chiến và khả năng hữu hiệu của những người thi hành nó (cuộc chiến). Cuộc chiến (của Mỹ ở VN) đã chưa từng bao giờ được tường thuật như là một cuộc lấn hiếp toàn bộ của Mỹ trên đầu dân tộc Việt nam, bất kể họ là cộng sản hay không cộng sản, người miền Bắc hay người miền Nam; Vì đây là sự thật (của cuộc chiến). [ Chữ trong ngoặc tôi thêm cho rõ ý].

Tôi đồng ý, vì với những chứng cớ mà tôi thấy được, đã cho thấy rằng người Mỹ nhẩy vào Việt Nam với một tư thế của con người thực dân, một tên thực dân mới, với đầy đủ bản chất kỳ thị, ngang ngược, khinh bỉ người da màu, cộng thêm sự tinh khôn, giầu có của hệ thống tư bản mới; tất cả để cùng Pháp tái thực dân, nô lệ Việt nam. Phục vụ chiến lược toàn cầu của họ. (Dĩ nhiên nhiều công dân Mỹ gốc Việt bây giờ sẽ nhảy lên đùng đùng phản đối rằng Mỹ và Tây phương rất nhân bản, cởi mở v.v Và rằng không thể tin đuợc và không thể đồng ý đuợc với John Pilger, vì "nó" "phản chiến" đấy!!!!)

Họ quên rằng ở cái nước đồng minh yêu tự do bình đẳng ấy, trong thời gian Mỹ vào bảo vệ xây dựng tự do dân chủ nhân quyền ở Miền Nam, có Martin Luther King đã phải bỏ mình vì tranh đấu chống kỳ thị, đòi dân quyền, nhân quyền cho người da mầu trên đất Mỹ. Và người Úc, đồng minh tiến bộ yêu nhân bản, mới chỉ nhả nhân quyền cho người da màu thiểu số của họ vào năm 1967. Người thổ dân mới được chính thức công nhận làm con ngườì. Còn con người bình đẳng hay không thì là chuyện khác!!!

Óc bè phái đã làm mù nhiều bộ óc sáng suốt lọc lựa giữa "sự kiện" và "ý kiến". Óc vọng ngoại đã làm nhiều người chỉ còn tin vào sách báo Ấu Mỹ. Tin hay không, thuyết phục hay không, quí vị nào còn thời giờ xin đọc những tư duy của một người "chủ chiến" số một: cựu tổng thống Richard Nixon với những "1999, Victory without War", "Beyond Peace" và "The Clash of Civilisation" của Paul. S. Hungtington, một giáo sư chính trị mà Richard Nixon rất đồng ý và khâm phục. Ðể thấy Richard Nixon, Huntington nhìn nhận những chủ trương chính sách của người da trắng, người Mỹ, mà chính những người Việt "quốc gia" luôn luôn chối bỏ dùm họ..chỉ vì "chính nghĩa chống cộng".

Chúng ta phải nhìn và ghi nhận dư luận thế gìới với đầy đủ những đặc tính và bản chất của nó một cách cẩn thận. Nhìn thoáng về chiến tranh ViệtNam, Việt Nam thắng Mỹ. Nhưng nhìn thật kỹ cả dân tộc Việt Nam đã thua Mỹ, thua khối Tây phương thật đậm: Việt Nam mất cả triệu nhân mạng; hao tốn tiềm lực quốc gia; Tinh thần dân tộc sa sút. Người Mỹ, người Tây phương đã được mời trở lại làm chủ nhân ông với quyền lực kinh tế hầu như vô địch, mà không cần phải tốn một lời xin lỗi; Văn hoá ảnh hưởng Tây phương, lối sống Mỹ, Tây phương trở lại lấn chiếm mạnh hơn. Một cách nào đó họ đã thành công làm đuợc những chủ trương mà họ đã bỏ dở dang hồi thời thực dân cũ, mà không cần vũ lực: Ðồng hoá được dân tộc Việt nam! Ít nhất là trên ý nghĩa của mỹ từ hội nhập toàn cầu.

Và đấy cũng là lý do tại sao một nước Việt Nam thực sự dân chủ trong tương lai phải đòi cho bằng được lời xin lỗi chính thức từ những nước như Mỹ, Pháp, Nhật. Người Tây Phương rất gian ngoan trong lãnh vực này. Họ chỉ muốn "xin lỗi ngầm" bằng cách viện trợ kinh tế.

Vì thứ nhất nếu công khai xin lỗi, tức là họ chính thức nhận lỗi vi phạm tội ác chống nhân quyền nhân bản. Hệ quả sẽ là những đòi hỏi lên án, hay nghị xử những "thần tượng" của họ và còn có thể keó dài đến bồi thường chính thức như Phát Xít đã phải chịu.

Thứ hai ,quan trọng hơn hết và cũng là chủ trương đường dài của họ. Biết ta nghèo cần tiền. Khi viện trợ kinh tế, người dân bản xứ sẽ có cảm giác thụ nhận, được ban phát ơn huệ, hơn là một quyền được đòi hỏi. Và từ đó cái "tinh thần biết ơn sẽ nẩy nở". Khi cái tinh thần biết ơn đã nẩy nở, những ký ức vốn đã không rõ rệt về dã tâm của họ sẽ phai mờ dần. Xã hội dân chúng sẽ chấp nhận họ dễ hơn, "tự nguyện" hơn và trở thành một chuyện đương nhiên. Tất cả đã và đang xảy ra. Nhiều người đã thấy bất lực bèn đổ cho toàn cầu hoá, hay đẹp đẽ hơn là thế giới đa văn hoá, phải trao đổi văn hoá với nhau chứ!

Nếu được thế thì còn gì bằng! Nhưng nhìn lại đi từ sau năm 1945, văn hoá đã chỉ đi một chiều theo sức mạnh của kinh tế, vật chất. Các dân tộc da màu đều biến dạng dần theo Ấu Mỹ, trong khi Ấu Mỹ có cái gì họ học và hành theo người khác không??? Ngày nay Úc, Mỹ v.v rêu rao rằng họ đến Việt Nam để trao đổi văn hóa với những chương trình viện trợ, truyền đạo, giáo dục.. Nó đẻ ra một giới trẻ nói tiếng Anh, tên Tây, ăn mừng Giáng Sinh, ngày Tình Nhân v.v Nhưng ở Úc, ở Mỹ không có gì thay đổi! Không có ai hiếu đễ với cha mẹ anh em, yêu kính thầy cô như đạo lý tuyệt vời của Việt Nam cả.

Về điều này ông Mahathir, thủ tướng đương nhiệm của Mã Lai (2001) có lý khi tố cáo chủ trương thực dân mới (neo-colonialism). Ông nêu ra thí dụ điển hình là ở Mã Lai, năm ngày lễ lớn, công cộng tiêu biểu cho giá trị nhân bản của nhân loại : Ngày Phật Ðản, Ngày Giáng Sinh, Ngày Sinh Mohamed, Tết Tây, Tết Ta, đều là ngày nghỉ Công Cộng. Trong khi ở bên các nước Tây phuơng, tuy họ không cấm nhưng không bao gìờ được xếp vào ngày nghỉ công cộng cho cả quốc gia[21]. Như vậy chiêu bài trao đổi văn hoá thực chất là sự lấn chiếm, tằm ăn dâu, không hơn không kém.

Như vậy ta phải đòi họ chính thức xin lỗi. Thứ nhất để sự vi phạm nhân quyền của họ phải được chính thức ghi vào sử sách. Ðưa vào chương trình giáo dục phổ thông, cho mọi thế hệ sau soi chung. Người dân sẽ lấy lại được tự tin để cái mặc cảm "biết ơn" không còn nữa. Thứ hai khi họ chính thức xin lỗi, tư thế ngoại giao, vị trí ngoại giao của ta sẽ cao hơn khi có sự trao đổi văn hoá, hay trong những tranh chấp trong tương lai. (Tôi sẽ trở lại đề tài này ở một bài khác, với nghiên cứu chuyên môn hơn, trong dịp khác)

Viết xong phần này nơi, đất tạm dung Ngày 20 tháng Giêng năm Tân Tỵ (12/2/2001)

Nguyên Khả Phạm Thanh Chương

-------------------------------

Phần VI: Thưa các Ðồng Chí Ðảng Viện đảng CSVN

Ðồng chí ơi! Hãy Nhìn Quê Hương Sáng Chói.

Ðối với tôi, không có nỗi bất hạnh nào lớn hơn là xa quê hương đất tổ. Khi đã phải lang thang phiêu bạt xứ người, xa cách quê hương, những mất mát lớn lao khác sẽ nối đuôi nhau kéo đến không thôi. Những mất mát không thể qui thành giá trị tiền bạc. Những mất mát mà thiếu nó hạnh phúc, ý nghĩa của cuộc đời không còn nữa. Dẫu nơi đâu cũng phải sống với con người. Không có quê hương là cả một cái "không" bao phủ lấp kín tất cả những gì mình đang có. Ngay cả khi có cha, có mẹ, có gia đình anh chị em bên cạnh, mà thiếu khoảng không gian, vòm trời của đất nước, dẫu ô nhiễm, bụi bặm nghèo nàn, thiếu vắng tiếng nói đồng bào, dù là tru tréo, chửi nhau, đời sống cũng trở nên quắt queo, khô héo, tâm hồn sẽ quay quắt, bần hàn.

Tôi sinh ra đã khóc cùng dân tộc với tiếng khóc trong khói lửa đau thương và lớn lên trong tiếng gầm của bom đạn, trái phá từng đêm vọng về át tiếng mẹ ru. Cuộc đời tôi, cũng như bao nhiêu cuộc đời của người dân Việt cả mấy ngàn năm, đều in hằn những đau nhức ngoại xâm. Vì thế bản năng ganh đua, tranh đấu, nó đối nghịch tự nhiên với những sắc dân nước ngoài và tôi chưa bao giờ lùi bước nhượng bộ. Hai mươi năm sống trên xứ người mà không có bạn Tây, đi đến đâu cũng "sinh sự" là vì thế. Nhưng những ưu tư trăn trở lại luôn luôn tự nhiên quay về với đất nước, đồng bào như những chiếc lá, giòng sông, sẽ tự nhiên rớt rơi, chảy về cội, về nguồn, dẫu có thế nào đi nữa. Cho nên tôi chỉ muốn nói chuyện với đồng bào của mình, về nhân dân của mình, về đất nước của mình mà thôi.

Trên quê hương tôi hôm nay, nhiều người vẫn "thích" gọi nhau là đồng chí, dù có thể sau đó vài phút họ sẽ vùi dập nhau bằng những thủ đoạn man rợ, hèn mạt nhất, mà kẻ thù cũng không bao giờ "được" may mắn đón nhận. Nhưng tôi cũng vẫn sẽ nói cùng anh, cùng chị, cùng em, với danh xưng đồng chí đến khi nào không cần nó nữa. Tôi tin rằng khi nói về đất nước quê hương, đồng bào với nhau, một lúc nào đó, những ngôn từ vay mượn tự nó sẽ tan biến đi trong hơi ấm của tình đồng bào, dưới anh linh của tổ tiên, hồn thiêng sông núi.

Cách đây hơn 30 năm, Ðồng chí có biết không, có một người Việt Nam, một thanh niên Việt nam, gốc Minh Hương đã mơ rằng " Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi không ngừng Sài Gòn ra Trung, Hà Nội vô Nam, tôi đi chung cuộc mừng và mong sẽ quên chuyện non nước mình". Tôi không biết người đó có được đi không ngừng khắp các miền đất nước dấu yêu, loang lở vết đạn bom, sông núi thâm nâu mầu máu anh em, hay không nữa? Vì tôi biết, tôi và đồng bào tôi đã không được phép rời nơi cư trú mà không có giấy phép đi đường của Công An. Tôi cũng không biết Anh ta có chung được cuộc mừng hay không? Nhưng tôi và các bạn tôi đều bị săn đuổi, sống "chui" không hộ khẩu, sau khi cửa nhà, tài sản, bị kiểm kê tịch biên! Và không hiểu anh ta có quên được chuyện non nước mình hay chưa? Nhưng tôi đã cố gắng quên, mà quên không được! Không phải vì chúng tôi muốn nhớ! Mà họ luôn luôn nhắc nhở chúng tôi!

Ðồng chí ơi! Có còn nhớ không! Vì sau đó khi bình yên vừa đến với dân tộc mình, trên những vết thương chưa kịp khép kín, máu còn đang rỉ ứa những đau thương mất mát. Nụ cười đoàn viên vốn đã không trọn vẹn khi những khăn tang còn mới tinh mơ phủ đầy mấy lớp trên đầu trẻ thơ! Chiến tranh Việt Miên lại xảy ra! Bổn phận với đất nước, với dân tộc chưa tròn hạt gạo, chưa đầy miếng sắn, hạt ngô, anh em Việt nam lại bị lôi đi thực hành nhiệm vụ quốc tế. Lần này ta không vây đánh kẻ thù đế quốc mà cắt cổ đồng chí anh em! Máu đồng bào tương tàn chưa khô vẫn còn nhũng ướt đôi tay. Anh em mình lại phải thêm lần đi sát phạt xứ người! Khăn tang lại thêm một lần phủ lấp tương lai con cháu, mẹ già, vợ thơ.

Sát nghiệp chăng đồng chí? Tôi cũng không biết nữa! Chỉ biết rồi ngay sau đó anh em đồng bào mình lại phải gánh thêm nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc đánh người đàn anh Trung quốc mà cách đấy không lâu mình được lệnh ôm hôn thắm thiết, dẫu bốn ngàn năm dấu roi vọt đô hộ của họ vẫn còn hằn trên thân xác nhân dân này. Ðất nước lại thêm một cảnh tan hoang! Nhân mạng lại một lớp người ngã gục khi chưa hưởng kịp hòa bình sau 20 năm thống nhất! Bác Mao kính yêu bỗng chốc trở thành tên bá quyền sô-vanh (Chauvin) nước lớn! Từ đấy tôi đã quên! Tôi đã quên hết những chữ nghĩa "cao đẹp": tình nghĩa vô sản, đồng chí cách mạng, lãnh đạo kính yêu. Tôi đã vất hết tất cả vào trong nhà cầu của tôi. Và cũng từ đó, tôi gọi cái nhà cầu của nhà tôi là "lăng Bác". Nhưng chuyện non nước mình thì vẫn không nguôi!!

Ðồng chí biết không, sau ngày thống nhất đất nước, Tôi có người anh ở Hà nội vào thăm. Ông anh tôi đi làm bổn phận thiêng liêng với đất nước, theo Kháng chiến, từ năm mười bốn tuổi. Ông nghe nói có thằng em "thông minh" nên từ lúc vào Nam thăm gia đình, lúc nào cũng rủ rê trò chuyện với tôi dù anh em cách nhau cả thế hệ. Lần đầu tiên nghe tôi "đòi "đi thăm "lăng Bác", ông ấy vui quá bèn thưa với ông cụ tôi để xin giấy đi đườ ng cho tôi. Ông ấy là cán bộ cơ đấy đồng chí ạ! Nhưng khi thấy tôi chạy xuống nhà cầu, thì mắt ông hoảng lên! Da mặt xám ngắt, chân tay run rẩy cơ hồ đứng không vững nữa! Tôi cứ nghĩ là anh mình giận dữ phát run! Nhưng không ! Ông ấy sợ cuống lên chạy vội ra khép cửa ngoài, rồi quay vào thì thầm cuống quít: "Sao chú dại thế!" Ông đưa mắt nhìn ông cụ tôi hoang mang cầu cứu! Cụ tôi vẫn cứ lặng yên uống trà không nói một lời! Ông anh tôi đành lẳng lặng buông thõng người ngồi xuống ghế. Miệng lẩm bảm như người mất hồn: " Thế này thì hỏng mất! Nát việc hết cả!". Tôi đứng nhìn anh mình mà lặng người xót xa quên cả cơn đau thèm thăm lăng Bác của mình. Lần đầu tiên gặp nhau sau mấy chục năm ngăn cách, tôi mới thấy được tình thương của anh mình dành cho mình! Tình máu mủ! Từ đấy cả tháng trời ở Sàigòn anh không hề rời tôi nửa bước! Anh nhẫn nhịn lo lắng khuyên tôi đủ cách. Mà đồng chí nghĩ xem! Thanh niên cao ngạo, đã quen nếp sống không "kềm kẹp"! Mà giờ này phải kềm hãm cả tư duy, cảm xúc, thì làm sao được cơ chứ. Trước khi trở ra Hà nội. Anh tôi bá vai tôi thưa chuyện với ông cụ tôi: "Em nó phải đi thôi Ông ạ! Không thể ở đây được!" Rồi không đợi tôi nói gì, anh kéo tay tôi bảo lấy xe đưa anh ra tàu Thống Nhất. Tôi rồ ga chở anh đi mà lầm lì không nói. Ðến nơi, anh khoác vai tôi thật chặt nói sát vào tai tôi: "Chú phải liệu mà đi ngay! Càng sớm càng tốt!" Tôi với cái ương ngạnh cố hữu : "Sao anh sống được mà em lại không sống được nhỉ?" Anh nhìn tôi ái ngại nhưng rất cương quyết : " Anh khác, chú khác. Anh đã biết, đã hiểu, đã chịu quen rồi! Nhớ phải liệu mà đi ngay nhé!"

Thế là mấy năm sau tôi đã ra đi khỏi đất nước, mà chưa thực hiện được giấc mơ đi suốt Nam Bắc không ngừng để quên chuyện non nước mình như cái ông nhạc sĩ gì đấy. Bây giờ đã hơn hai mươi năm xa cách. Dù về lại quê hương đã ba lần! Ðã đi suốt Bắc Nam mà lòng vẫn chưa quên được chuyện non nước mình đồng chí ạ!

Ðồng chí ơi! Quên làm sao được khi những ấn dấu đạn bom có thể dần phai nhòa theo năm tháng, rừng núi thay hoa, phố phường tái thiết nhưng vòng oan khiên lòng người nghiệt ngã cứ đầy lên theo ngày tháng lặng yên! Không phải tại tối cố nhớ đâu! Tôi có thù oán gì với đất nước, đồng bào của tôi đâu! Mà nói đến thù oán làm gì cơ chứ! Ðạo lý của Việt Nam chúng ta có bao giờ dạy chúng ta oán thù đâu. Cha ông chúng ta có đầy năng lực chiến đấu, kinh nghiệm đòn vọt nô lệ mà khi phá gông bẻ cùm rồi vẫn không hề dạy con cháu lòng căm thù cái gì cả. Vẫn cứ bài học bao dung, lượng cả làm đầu. Tha ai được thì cứ tha. Có phải giết ai cũng là hết cách! Tôi nhớ! Chỉ vì chung quanh bắt tôi phải nhớ, hiện trạng đất nước bắt tôi phải nhớ! Tình cảnh nhân dân buộc tôi không quên thế thôi.

Bạn bè cũ của tôi nhiều đứa đã chết trong trại "học tập" đồng chí ạ! Không! Tụi nó không lính tráng ngụy với chính gì cả đâu! Thanh niên sinh viên, thầy giáo khoa học không thôi! Mà cũng tại thanh niên sinh viên, thầy giáo ấy mới nát việc. Chúng nó cũng như tôi. Cứ ngỡ khi chiến tranh qua đi như sóng rút khỏi bờ, nó sẽ cuốn đi những rác rưởi của chiến tranh, hận thù, để rồi tất cả sẽ thanh bình, dân chủ, tự do sẽ tái lập. hạnh phúc ấm no, tiến bộ, phát triển sẽ đến. Khốn nạn, thống nhất vừa mừng chưa ngót một nhịp tim, bom đạn vừa ngưng chưa hết được nụ cười, thì lại chinh chiến, đói khổ. Tự do không thấy chỉ thấy bắt bớ tịch thu. Giấc ngủ chập chờn theo tiếng chó sủa khuya, lẫn tiếng dép râu công an lạnh lùng trong bóng đêm. Và cho đến tiếng gõ cửa dồn dập là cuộc đời loang lở! Dân chủ cũng không thấy! Chỉ thấy tràn ngập những chỉ thị, khẩu hiệu, lệnh ban không thể cãi. Mà chúng nó cãi mới chết người chứ! Ðã bảo cái thanh niên sinh viên, cái tính trí thức đã làm nát việc, nát thân con người đồng chí ạ. Chúng nó không thể thấy chó bảo mèo được! Chúng nó không thể ngửi cứt mà bảo thơm được thì làm sao đây?!! Chúng nó và tôi, cũng như ông Phùng Quán ấy, cứ yêu thì bảo yêu, ghét thì nói ghét! Ông Phùng Quán là nhà văn nên ai cướp bút của ông ấy, Ông ấy sẽ dùng dao viết văn trên đá! Còn đám bạn của tôi nó có viết lách khỉ gì đâu! Chỉ có óc khoa học, hai cộng hai là bốn, không thể là năm được; và phát ra cái miệng, nó thích nói cái gì nó nghĩ! Ai bịt miệng nó! Nó đành đánh rắm, đánh địt ở đít cho to để phản đối! Thế là mang tội, mang án đấy đồng chí ạ! Có nền thống nhất, hoà bình, tự do, hạnh phúc nào quái gở thế không cơ chứ!

Cơ nguyên cũng chỉ vì cái chuyện đánh tư sản tư siếc gì đấy. Mà tiền của trong gia đình nó bị kiểm kê, tịch thu, tụi nó chẳng tức! Các cụ bảo của đi thay người! Thế mà lại trật lất mới khốn nạn! Của vừa "đi" thì ít lâu sau, người cũng mất! Bố mẹ nó bị câu lưu, hành hình, khảo tra, vì "chính quyền cách mạng" được báo cáo rằng nhà nó vẫn còn vàng bạc và đem dấu. Thế là bị đi cải tạo vì cái tội ngoan cố không thành thật khai báo với cách mạng, dù rằng chẳng còn gì để khai. Bố mẹ chúng nó làm sao sống được trong cái trại cải tạo văn minh ưu việt bậc nhất nhân loại của đất nước mình cơ chứ. Thế là tụi nó lên thẳng ủy ban lý sự. Không biết tụi nó lấy ở đâu ra cả bản hiến pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cũ rích nữa cơ! Ðã bảo cái tính trí thức nó ngây thơ lắm! Thế là sau trận lý sự cãi lý hiến pháp oang oang ở ủy ban. Mấy đêm hôm sau, bất ngờ công an gõ cửa, với tội danh chống lại chủ trương đường lối cách mạng, xuyên tạc hiến pháp của nhân dân và lời nói Bác Hồ! Cho đến bây giờ tôi vẫn không biết chúng nó cãi những gì, viện dẫn những gì mà nát cả cuộc đời như thế! Tôi đoán rằng cũng với cái tính trí thức, chắc chúng nó lý sự rằng tại sao Hiến Pháp viết một đường mà Bác Hồ và các ông làm một nẻo vv và vv. Chúng nó có biết đâu rằng đối vơí những loại "lãng tụ", chế độ độc tài, đảng trị thì Hiến Pháp, pháp luật chỉ để cho có thôi, chứ những văn bản đó vô ích hơn cả tấm giấy chùi ở trong nhà cầu!

Nhưng thôi ! Chuyện ấy cũng qua đi theo luồng sóng biển vượt biên của tôi mà trôi mất. Tôi cứ ngỡ như thế mới đau chứ! Ngày tôi về thăm lại đất nước, với tờ đơn xin hồi hương cầm tay ngậm ngùi nhìn xứ sở "đổi mới" mà lòng xôn xao kỳ lạ! Tôi đã tưởng mình quên bớt được chuyện non nước mình, ai dè! (Người nam bộ vẫn bảo chỉ có xe đạp mới có dè chứ người ta, ai mà có dè!) Tôi đi đến đâu thì công an theo đến đó! Họ cố tình nhắc cho tôi nhớ "chuyện non nước mình" đồng chí thấy không? Họ chẳng làm gì cả cứ theo thôi! Mà đơn nộp rồi cũng không thấy một lời hồi đáp!

Mà thôi, không hồi đáp thì tôi cứ chờ đấy! Tôi đoán rằng họ chờ xem tôi có còn hay mở miệng "linh tinh" nữa không? Nếu quả như thế thì bỏ bu rồi! Vì bây giờ không những tôi vẫn còn tật hay nói "linh tinh" mà còn viết lách loạn cào cào nữa mới chết chứ! Nhưng kẹt là họ không còn khả năng cướp bút của tôi để tôi phải viết văn trên đá như ông Phùng Quán nữa rồi, đồng chí ạ! Không phải vì tôi có võ hay có súng, có bom, có mìn gì đâu. Mà bây giờ tôi viết trên máy vi tính, viết trên mạng liên-tín mới khó cho họ. Và đồng bào mình không chỉ còn sục xạo tìm giấy má để đọc nữa mà gõ lóc cóc trên máy, lên mạng tìm thông tin mơí hay! Bút không có để giựt, giấy không có để đốt! Ầy nhưng mà họ có bức tường lửa đồng chí ạ! Thế mới ranh mãnh! Nhưng cái khó nó ló cái khôn! Nhân dân mình vẫn thế đồng chí nhỉ! Họ vẫn cứ vào được mới tài chứ lị!

Không được hồi hương! Tôi nghĩ thế! Mà đành thôi. Dù khổ tâm lắm! Có ai muốn làm du khách trên chính quê hương của mình đâu! Mà không nói thế được! Có thể có chứ ! Mà không chừng nhiều nữa là khác! Trong cái kinh tế toàn cầu hoá, đa văn hóa này, thì chắc thiếu gì kẻ vẫn mơ làm du khách trên quê hương mình cho nó xênh xang! Thế mới có kẻ chạy tiền để ra đi chứ! Lãnh đạo mới gửi con đi chứ! Nhưng tôi thì nhất định không! Tôi xin thề có các anh linh vua Hùng chứng dám. Nhưng chế độ đã không muốn thì phải đành thôi. Thế là tôi, cho đến bây giờ vẫn buộc phải chắp tay làm du khách lang thang nhìn quê hương mình nóng cháy trong cơn sốt từng cơn của thị trường toàn cầu hoá. Ðồng bào tôi "thua", mà tôi bị đẩy vào thế kẻ "được" mới khổ tâm. Ðồng Ðô La vẫn cứ là đồng Ðô la "hoành tráng" đè trên tờ tiền cụ Hồ "bé bỏng, xác xơ".

Nói đến đồng tiền "cụ Hồ", tôi xin hỏi nhỏ các đồng chí nhé. Hỏi nhỏ thôi vì đây là những chuyện riêng tư, lặt vặt. Tôi thấy lạ một điều là những tờ tìền Việt Nam, từ tờ 100đ đ, 500đ, 1000đ, 5000đ, 10000đ, 20000đ, 50,000d v.v đều in một cái bản mặt phèn phẹt của ông Hồ. Không hiểu người ta kính trọng ông ta quá trớn hay là chơi xỏ lá ba que ông ấy? Cứ tưởng đến cái cảnh một ông khách làng chơi nào đấy, hay các đồng chí nam tụi mình đi "nghịch" tí, cho tê tê buồn buồn ở Karaoké, thưởng tiền các cô chiêu đãi, nhét vào quần lót, vào "bướm" các cô ấy thì còn ra cái thể thống "kính yêu" gì nữa! Không hiểu đã có sắc lệnh hay nghị quyết cấm nhân dân cất tiền cụ Hồ ở những chỗ "ấy" hay không?!!! Hay là cái bộ óc ưu việt nào đó nghĩ rằng in vào đồng tiền thì chúng mày có chán, có ghét vẫn cứ phải yêu phải thích! Yêu tiền là yêu Người! Tôi mà là tổng bí thư, tôi sẽ cùng các đồng chí vận động Mỹ in hình cụ Hồ vào đô la hay hơn. Vì bây giờ cả đảng, cán bộ, cả nước yêu đô la hơn tiền Cụ Hồ nhiều.

Biết làm gì bây giờ! Ước mơ gì bây giờ! Ðồng chí ơi, lần đầu tiên trong cuộc đời làm người Việt nam, sau hai mươi năm sống tha phương, tôi được đặt chân lên đất Hà nội, thủ đô ngàn năm văn vật của dân tộc, trái tim của cả nước mà dù lòng bồi hồi nhưng vẫn cảm thấy thân quen như từ muôn kiếp. Như chính mình đã sinh ra và lớn lên ở đây. Tôi đi bát bộ kháp các đường phố, đường dài, ngõ hẹp. Nghe đồng bào gọi chào nhau ơi ới, chửi nhau chanh chua, mà lòng rộn rã. Dù lúc ấy không vào mùa thu để hít đầy phổi mùi hoa sữa, hay hương cốm xanh vương bước chân đi! Nhưng mùi bún chả thơm lừng khắp ngõ! Mùi phở tung bay khiêu khích dạt dào! Chả trách ông Nguyễn Tuân không nề chữ nghĩa tán tụng món phở đến nỗi bị phê bình là lãng mạn tiểu tư sản gì gì cơ đấy! Ở cái đất nước khốn khổ này đi dâu cũng thấy hàng chữ Ðộc Lập Tự Do Hạnh Phúc, mà khen chê có một món quốc hồn quốc túy cũng mang tội!

Nhưng mà có một điều khổ tâm. Tôi tìm khắp chốn, ngó kỹ khắp nơi vẫn không thấy được một búc tượng Anh Hùng tiền nhân nào được dựng lên cả, ngoại trừ một bức tượng đen xì của một thằng Tây nào đó. Nó đứng sừng sững, chống nạnh, khua tay, hất hàm một cách rất mất dạy, nham nhở và trơ trẽn vô cùng đồng chí ạ. Nhân dân chắc phải bất bình dữ lắm, họ bảo Nó là chú hay bác gì của Lê Duẫn, hay cháu lai mấy đời của Lê Chiêu Thống thì phải, vì nó cũng họ Lê, Lê Nin. Nhưng vì nước ta dân chủ tập trung cho nên họ chỉ tỏ bất bình bằng cách ban đêm leo lên đội nón lá cho Nó thôi. Cũng được đồng chí nhỉ! Khôn vặt vẫn hơn là ngu. Lãnh đạo, bồi bút khi nhắc đến thằng Tây này đều cung kính gọi "Người" cơ đấy! Thế mà nhân dân họ cứ thằng này thằng kia, nó mà gọi! Nhân dân mình hâm và tếu ra trò chứ phải chơi! Lúc ấy là năm nào tôi quên rồi nhưng tượng của vua Quang Trung ở gò Ðống Ða đang được thực hiện, có lẽ là tượng tiền nhân duy nhất nhưng mà Ngài lại đứng ẩn đàng sau gò nếu nhìn từ phía đường Nguyễn Lương Bằng... Mà tại sao không xây trên gò nhỉ? Và cái miếu trên chóp gò đâu rồi ấy! Nhân dân bảo với tôi rằng thời Hoàng Văn Hoan làm cái chức Văn Hoá gì đấy, nó sợ Trung Quốc buồn lòng nên phá đi rồi! Thế còn các vị lãnh đạo cao hơn đâu? Tôi không hiểu Hoàng văn Hoan sợ hay cả đám các "đồng chí" ấy sợ, rồi bây gìờ đổ thừa cho Hoan, chỉ vì hắn trốn qua Tầu và không còn ai cãi nữa!!! Mà hắn cũng đi chầu Mao trạch Ðông rồi thì phải! Rõ tiếc!

Có nhiều lần tôi lặng người ngồi nhìn chiều xuống bên hồ Tây mà muốn văng tục khi thấy nhân dân mình lúm khúm, lăng xăng tiếp rước những con du khách kênh kiệu ăn mặc hở háng, hở nách. Cũng chẳng sao tụi nó mặc vậy cho mát da mát thịt, hưởng gió hồ Tây, ngắm chim sâm cầm! Nhưng đồng chí có biết không, khổ nỗi nó ăn mặc như thế mà vào cả chùa chiền của người ta cơ. Ở khu chùa Diên Hựu, dù có cả cái bảng vẽ chữ vẽ hình nhắc nhở, mà chẳng có đưá nào, cả ta cả tây thèm lưu tâm cả. Cứ thấy nó đưa tiền ra thì tíu tít cả lên thôi. Tôi thấy thương đồng bào mình quá!

Ðồng chí biết không, có khi tôi bỏ cả ngày đi hết nơi này nơi kia chỉ để nhìn ngắm đồng bào mình với muôn hình muôn vẻ cho đã thèm hai mươi năm xa cách. Ðang là lâng lâng thích chí thì lại thấy dăm ba thằng Tây to cao đồ sộ nắm eo mấy cô bé Việt, váy ngắn cũn cỡn, hoặc quần bò áo thun sát da, đứng chỉ tới vai nó, dúi vào taxi, hoặc lôi ra khỏi taxi đi vào nhà khách, nhà nghỉ khách sạn gần đấy. Tôi bỗng nhớ đến cảnh các quán "Bar" Mỹ ở Sài Gòn mà thở dài! Giải phóng, cách mạng, thấm đượm bản sắc dân tộc... là như thế hay sao! Trái tim của cả nước ơi! Tôi bỗng lạnh cả người khi bất chợt nhớ đến "kỹ nghệ lấy Tây" của Vũ Trọng Phụng! Hay là đất nước mình đang ở thời Thực Dân mới! Với những tên thực dân "mới" cùng mầu da, nắm quyền lãnh đạo bắt tay thực dân Tây, Mỹ và đám thực dân con ăn ké Việt Kiều! Nếu quả thế thì quá khốn nạn cho đồng bào mình đồng chí ạ! Bị đè năm lần bảy lớp, chẳng trách thân xác cứ rạc cả ra!!! Hay chắc lại tại do "cơ chế thị trường"! Cũng có thể đồng chí nhỉ! Nhưng tôi nghĩ mãi với kiến thức Chính Trị và Kinh Tế học ở Úc của tôi mà vẫn không tìm ra được còn cái "định hướng xã hội chủ nghĩa" là những cái nào, cảnh nào, nằm ở đâu?

Tôi buồn quá đi vòng ra phố khác. Tìm đến một quầy nước nhỏ bé bên đường ngồi xuống uống cốc trà xanh, ăn một miếng kẹo lạc, rồi hút một hơi Thăng Long! Ôi sao mà nó sướng thế cơ chứ! Hơn hẳn Coca, Bia Rượu, thuốc ba số bên Úc một trời! Còn đang ngây ngất, định làm một hơi nữa, thì ôi chao! Một đám các cháu nhỏ, còm cõi, hom hem, xúm lại xin đánh giày! Tay này lăm lăm đôi dép nhựa, tay kia cầm thùng đồ nghề, miệng nài xin đến khổ! Ðã hết đâu! Bên này một đám các cháu nhỏ khác, đưá bế em mũi dãi nhễ nhại, tay cầm cái nón, nhếch nhác lại xin tiền nữa! Tôi choáng váng cả người! Hai mươi năm không thấy ăn mày, không thấy đánh giầy! Giờ đây nhìn con cháu đồng bào như thế này đây sao! Cuộc đời tôi, làm ông, làm thầy, làm thằng, có đủ nhưng chưa khi nào tôi ngồi dạng chân để ai đánh giày cả. Ngồi để người khác oằn lưng đạp trên chiếc xích lô đã là quá quắt bất nhân rồi! Tôi lúng túng quá nhưng cũng ổn định chúng nó xong, tôi xin mượn một đứa cái bàn chải và tự quẹt qua loa mấy cái, để lấy cớ trả công mướn bàn chải. Bác chủ như muốn xua đuổi các cháu, tôi liền vội vã xin được "tiếp" lũ nhỏ.Tôi ra điều kiện là chúng ngồi nói chuyện với tôi dăm phút rồi sẽ cho tiền. Tôi mời chúng nó ăn kẹo uống nước và hỏi gia cảnh, quê nhà ở đâu v.v Dĩ nhiên tụi nhỏ sẽ nói lung tung nhưng đến chín phần mười đều ở xứ Nghệ! Tôi lấy tiền ra trả tiền nước, tiền kẹo. Rồi cũng tế nhị quay lưng "kín đáo" tặng các cháu mỗi đứa chục ngàn. Lúc chúng bỏ đi vẫn còn quay lại ngơ ngác nhìn tôi. Chúng có biết đâu tôi cũng bàng hoàng nhìn theo chúng nó đầy kinh ngạc. Bác chủ quán trách khéo tôi: "Bác làm thế, chẳng mấy chốc bọn khác kéo đến bây giờ! Bác người ở ngoài về đấy phỏng?" Tôi nói trớ " Dạ không! Tôi ở Sài Gòn ra công tác". Và hỏi luôn để dấu cái nói dối vụng về của mình: "Chúng nó quê ở xa thế cơ à bác!". Bác chủ chép miệng " Xa gần gì thời buổi này! Tứ xứ đều về đây! Từ Nghệ ra đây vẫn gần hơn đi vào trong Thành Phố!". Bây gìò thì tôi hiểu và tìm ra được câu trả lời rồi: Các cháu nhỏ kia, sự dửng dưng của người dân, người lớn, cha anh, lãnh đạo, trước cái đói rách khốn cùng đau khổ của các cháu, đích thị là cái đuôi định hướng XHCN của nước ta còn lại từ mấy chục năm qua! Phải không đồng chí!

Văn hào Dostoievsky một lần đã nhận xét ở đâu đó rằng " Sự bất hạnh, đau khổ, chịu đựng của trẻ thơ (trên thế gìới) là bằng chứng hùng hồn nhất để bác bỏ sự hiện hữu của Thượng Ðế (Thiên Chúa hay ông Trời). Còn tôi, một người Việt Nam vốn dốt nát triết học, không thích tôn giáo, chỉ thấy đây là một chứng cớ hiển nhiên của cái tính bất nhân, vô chính nghĩa của những tên lãnh đạo, Ðảng Cộng Sản Việt Nam và Hồ Chí Minh. Nếu sai xin các đồng chí cứ chỉ dạy!

Ðồng Chí có thấy các em thơ không?

Ðến đây có lẽ tôi phải trở lại nói chuyện nghiêm túc hơn. Phải nghiêm túc khi nói về trẻ thơ, nhất là về những bất hạnh, khốn nạn mà các em phải gánh chịu. Vì với tôi, khi nói hay bàn về chính trị, lãnh đạo, tôn giáo, tôi cứ hay nửa đùa nửa thật. Phần vì muốn tránh bớt cái khô khan căng thẳng cho vui, cho dễ nói dài, nói dai. Hơn nữa, thành thật mà nói, tôi không thấy có nhu cầu "tôn kính" tôn giáo hay chính trị và các nhân vật lãnh đạo của nó. Bởi vì họ cũng chỉ là những con người trần tục như tôi; với cái bao tử đầy cứt, do từ cái mồm cũng muốn ăn ngon, thèm uống ngọt và các cơ phận sinh dục vẫn cứ phải "bài tiết" như tôi; nếu không nói là có nhiều phần tệ hại hơn tôi nữa! Tôi chẳng dấu diếm, "thánh hoá" tôi bao giờ. Như thế, khi cố tỏ ra tôn kính, sùng bái lãnh đạo chính trị hay tôn giáo, vô hình chung mình đã biến thành cái máy nói, nô lệ tư duy và mất dân chủ, mất tự do.

Cách đây khoảng hơn 30 năm, hồi thời Mỹ Ngụy, có một ông nhà văn trẻ, không khoa bảng, quê ở Thái Bình nghèo khó (Cũng lại cái Thái Bình mà Ðảng ta đang ghét cay ghét đắng, đang muốn bôi nhọ). Anh nhà văn trẻ này đã từng bị đảng phỉ CSVN ghi vào sổ những tên biệt kích văn nghệ nguy hiểm; từng bị Mỹ Ngụy xăm xoi trù ếm. Chỉ vì anh ta cứ thấy đâu nói đấy. Nhất là nói về cái bất nhân bỏ rơi trẻ em, bịp bợm thiếu nhi, xúi trẻ ăn cứt gà sáp của lãnh đạo, chế độ. Anh ấy đã viết "Bò sữa gặm cỏ cháy" để nói lên vấn đề này một cách rất "nghiêm túc".

Tôi không khơi lại những cái đã qua, những nhân vật đã qua ấy. Vì họ đã hết quyền rồi. Bây giờ nếu còn sống thì cũng lây lất đâu đó ngồi gậm nhấm những gì đã cướp của nhân dân mà đếm thời gian trôi qua, trước khi về hội kiến các cụ tổ tiên Việt nam mà mặt mày lơ láo, thần thảm thương như Cao Bá Quát đã nói! Nói cho cùng họ, chỉ là những tên "chăn bò" hạng bét của Mỹ thôi! Họ đã đi vào góc tối của lịch sử! Không đáng bàn nữa!

Tôi cũng sẽ không phí giờ bàn đến từ ngữ khẩu hiệu nữa! Vì nhân dân họ bén nhậy lắm không cần phải "dạy" họ như dạy đĩ vén sống, dạy ông Cống đi thi. Hay đúng hơn là làm cái việc muá rìu qua mắt thợ! Hãy cứ lắng nghe nhân dân phản ánh một cách cay đắng nhưng hóm hỉnh, thông minh và chính xác về chữ nghĩa, khẩu hiệu: " Ở đất nước ta từ ngày Thực dân ra đi, cái gì cũng thuộc về Nhân Dân rồi! Quân đội nhân dân, Công An nhân dân, Toà Án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân vv.vv nhưng chỉ có Ngân Hàng, Kho Bạc là của nhà nước thôi!!!Ữ Cho nên đóng góp sinh mạng tài sản, thỉ nhân dân phải gánh, phải lo. Còn tiền bạc của cải làm ra của nhà nước, nhà nước giữ! Vì vậy không cần phải thưa chuyện, phân tích, chứng minh về những khẩu hiệu như: Không có gì quí hơn Ðộc Lập Tự Do, Ðảng tận tụy vì Dân- Dân Tin vào Ðảng, Dân Chủ Giầu Mạnh- Xã hội Công bằng Văn Minh ..v.v làm gì nữa. Dân biết cả! Những chữ đẹp đẽ ấy khi đã bị đảng CSVN và ban văn hoá tư tưởng đảng sờ đến là nó mất hẳn nghĩa rồi! Dù chúng có được treo đầy đường, khắp phố; hay được ra rả phát thanh ngày này qua ngày khác và trrên lỗ mồm của cán bộ, nhà văn, viện sĩ, giáo sư của chế độ. Những thứ ấy chưa từng hiện hữu ở đất nước chúng ta!

Ta hãy bàn chuyện hôm nay, những người lãnh đạo hôm nay, với những trẻ thơ hôm nay đang lang thang trên khắp đầu đường xó chợ Việt Nam. Những đưá trẻ đang ngồi chờ Mẹ, Chị đi khách xong để có bát cơm đầy. Những đứa trẻ đang nằm đau đớn hấp hối chờ chết vì cha mẹ không có đủ tiền lo lắng, thuốc thang. Những trẻ thơ Việt nam, con cháu của những anh hùng, trí tuệ, đã không bao giờ có được tuổi thơ.

Tôi vẫn thích nói những điều tai nghe mắt thấy hơn là viện dẫn văn từ, phúc trình báo cáo dù đã được đọc những nghiên cứu, báo cáo của các bác sĩ nhi đồng Việt nam, của cơ quan Quốc Tế, về hiện trạng những trẻ em phá thai, chữa trị cửa mình ở bệnh viện Nhi Ðồng vì đã bị "bán trinh" cho khách ngoại quốc ( dĩ nhiên gồm Việt kiều), những con số thống kê thiếu dinh dưỡng vv. và vv... Bởi ngôn ngữ của thư lại trong báo cáo, tường trình không thể nói hết sự thật của thảm trạng, nỗi đau đớn của các em bé Việt Nam dưới sự chăm lo của đảng sáng suốt, đầy trí tuệ. Bởi vì cũng chính những ngôn từ thư lại như thế mà được đảng CSVN báo cáo thì các trẻ thơ Việt nam nhất định là đang sống trên thiên đường hạ giới: được chăm lo, giáo dục, y tế, nuôi dưỡng bởi hàng trăm ngàn những thầy cô, bác sĩ, cán bộ nhân dân ưu tú, đầy tinh thần trách nhiệm, tình thương. Và dĩ nhiên phải là dưới sự soi sáng dẫn dắt của Ðảng đầy trí tuệ!!!

Nhưng hiện trạng vẫn cứ là hiện trạng! Trái ngược hẳn!

Ở đâu, nơi nào, thời nào cũng thế, tuổi thơ, em bé vẫn thường được dùng để đánh bóng vai trò của lãnh đạo, tính chính đáng của chế độ. Ðơn giản, không phải chỉ vì tuổi thơ, trẻ em dễ làm lòng người xúc động, thương yêu gần gũi, mà hơn nữa Tuổi thơ là rường cột, là tương lai của dân tộc đất nước, là vốn liếng quí nhất, quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Thật sự là như thế chứ đâu phải nói cho văn vẻ, văn chương mà thôi. Không có đất nước nào dân tộc nào mà ngóc lên được khi thế hệ trẻ thơ của họ không được chăm sóc no ấm, học hỏi đầy đủ và giải trí vui tươi. Và cũng như vậy ngược lại không có quốc gia nào dám tuyên bố xã hội mình văn minh, tiến bộ khi không trưng bày được sự no ấm, mạnh khoẻ, thông minh, vui tươi của con em họ. Nhưng ở đất nước ta, nơi có hình ảnh lãnh tụ ôm hôn nhi đồng khắp phố, tượng Bác kính yêu choàng vai thiếu nhi khắp nơi, thì ngược hẳn.

Trong chiến tranh, nước mắt, xương máu, thân xác của trẻ thơ Việt Nam khổ nạn, được mang ra trưng bày để tranh thủ dư luận thế giới về sự tàn ác vô nhân của đối phương. Thời hòa bình, cũng lại thân xác trẻ thơ, những đau khổ nhức nhối của các em bé, lại được trưng bày để nài xin lòng thương, viện trợ nước ngoài. Cái thời gian khoảng cách 25 năm hoà bình xây dựng XHCN không ai buồn đặt câu hỏi, giải thích. Con số ngân khoản quốc gia dành cho Quân đội, Công An to lớn quá độ, so với ngân khoản y tế, giáo dục dành cho thiếu nhi. Không ai buồn phân tích, chứng minh! Không ai thắc mắc tại sao trường đại học An Ninh, nơi đào tạo sĩ quan Công An, lại tuyển học sinh ưu tú nhất nước và dĩ nhiên được bao cấp rất cao so với các ngành khác. (phải đạt điểm thật cao với ba năm tiên tiến, dĩ nhiên chưa kể lý lịch). Giới lãnh đạo, báo chí, cán bộ, nhà văn của chế độ, vẫn cứ mặt dầy, trơ trẽn đổ lỗi tại chiến tranh. Ðảng vẫn không bao giờ sai!

Ðất nước, xã hội Nhật Bản gần như hoàn toàn sụp đổ sau chiến tranh, cộng thêm hai quả bom nguyên tử với hậu quả phóng xạ. Thế mà chỉ sau 15 năm, không một lời đổ lỗi tại chiến tranh, không một niềm hãnh diện tiền rừng biển bạc, không đổ thừa tại dân số, không có sự lãnh đạo sáng suốt đầy trí tuệ của Ðảng Cộng Sản, không có lãnh tụ kính yêu ôm hôn các cháu. Trẻ thơ Nhật Bản đã trở thành hình ảnh ước vọng, gương học tập của hầu hết các nước trên thế giới! Và từ đó cho đến nay, vẫn chỉ là niềm hãnh diện "kín đáo" của dân tộc Nhật!

Ở đất nước ta, một dân tộc có "truyền thống hiếu học", đối với các em vẫn còn được chút may mắn cắp sách đến trường một cách "chính quy", nghĩa là gia đình cha mẹ có hộ khẩu đàng hoàng, học hành đã trở thành "gánh nặng". Tôi về Việt nam ghé thăm mấy gia đình quen biết. Cứ thấy các cháu nhỏ vắng nhà luôn. Hỏi đi đâu? Thì được biết các cháu phải đi học thêm, học bù! Ban đầu tôi cứ nghĩ quả thật thầy cô bây giờ tận tâm quá! Ðã dạy ở trường rồi còn hy sinh, bỏ cả chuyện nhà, dạy thêm cho các cháu! Sau mới hiểu ra là không những trung học, mà tiểu học cũng "phải" học thêm. Không học không được với thầy cô đâu. Và học thì phải đóng tiền thêm, chứ không phải cứ đến cho thầy cô dạy dỗ rồi về! Nhân dân phản ánh ngắn gọn: "Bán" tự vi sư mà!

Ðối với những con em thuộc gia đình túng thiếu, hoặc vì kinh tế phải theo cha mẹ vào thành phố không có hộ khẩu, thì không được đi học. Có những trường hợp các cháu may mắn nhờ có "mẹ trẻ" gá nghĩa với người có hộ khẩu để cho con được phép đến trường, chưa kể tiền bạc đủ lối. Còn những em không may mắn chỉ có bố thì ra sao tôi không được biết. Ðấy là không kể đến khi ốm đau thì làm sao đây? Ðất nước hoà bình đã 25 năm, mà cái chế độ kiểm soát hộ khẩu tàn độc phi nhân bản, nhân quyền vẫn còn đó. Quyền tự do vãng lai, cư trú, du lịch được ghi trong hiến pháp chỉ áp dụng cho con ve cái kiến mà thôi.

Ðấy chỉ là trong ba bốn thành phố chính, những bộ mặt nổi, trưng bày của xã hội thì đã thế, chứ ở các tỉnh huyện xa, nhiều trường sở chỉ là khung nhà và cái mái, các em học trò đi học phải tự mang theo ghế nhựa. Giáo cụ và điều kiện học hành ở trường sở thì khỏi phải bàn cãi làm gì. Chưa nói đến chuyện thiếu thầy cô, đi học bữa đực bữa cái.

Một buổi trưa tôi và gia đình người quen đi thăm mộ các cụ nội, ngoại ở ngoài đồng. Chúng tôi thắp hương rồi đang đứng nói chuyện. Bất chợt bên phía bờ đất xa có tiếng trẻ thơ réo gọi:

- Mẹ ơi! Ông ơi!

Mẹ đứa bé quay lại nói vọng về phía bờ đất nơi đứa bé đang vẫy tay:

-Gì đấyyy! Sao không ở trường học lại ra đây vậy?

Thằng bé cố nói thật to:

-Mẹ ơi con khát quá! Con đói quá!

Tôi nhanh nhẩu đoảng hỏi chú em đứng gần bên:

-Bộ sáng ra nó chưa ăn gì hay sao vậy? Ở đây học trò không đem cơm theo à! Mà sao thầy cô đâu mà lại để nó bỏ trường ra đây thế này?

Cả gia đình im lặng nhìn tôi ái ngại, có vẻ hơi ngượng ngùng. Tôi mới chợt nhận ra cái vụng về xớn xác, nhanh nhẩu đoảng của mình. Mà sao đồng bào tôi họ lại ngượng làm gì cơ chứ! Phải phơi ra, gào lên cho cả cái chế độ nhà nước này xấu hổ mới đúng! Nhưng giới lãnh đạo có còn biết liêm sỉ là gì nữa đâu! Nếu còn, họ đã không để các hội gọi là "từ thiện phi chính phủ" đến đất nước này diễn trò ân nhân, cha nuôi, mẹ nuôi! Mà thực chất chỉ là bọn đi phát tán văn hóa của họ với nhúm bạc cắc của tư bản thực dân mới (Dĩ nhiên trừ những nỗ lực từ tâm chân chính cá nhân).

Tôi đã đến Lào Kai, Bắc Hà, Phú Thọ, Hải Dương, Ðông Triều, Quảng Ngãi, Hội An, nhìn hình ảnh các cháu bé loắt choắt, chân lấm không dép guốc dắt nhau đi học, mà trong bụng không biết đã có cơm chưa? Tôi bỗng nghĩ đến những đưá trẻ ở đất tạm dung xứ người bên kia bờ đại dương, mà không cầm được nước mắt. Và từ đó, mỗi lần nhìn cái quảng cáo xin tiền của các hội từ thiện Úc Mỹ, dùng hình ảnh khốn khổ của các trẻ thơ Việt nam, tôi tắt đồng chí ạ. Tại sao? Ðồng chí hãy dùng lương tâm, sự tự trọng của một đồng bào, của một người cha, người mẹ, ông bà của các cháu bé đó mà suy nghĩ và tự trả lời.

Trước khi tạm dừng bút, đồng chí cho phép tôi nhắc lại lời văn hào Nga Dostoievsky "Sự bất hạnh, đau khổ, chịu đựng của trẻ thơ (trên thế gìới) là bằng chứng hùng hồn nhất để bác bỏ sự hiện hữu của Thượng Ðế" (Thiên Chúa hay ông Trời). Còn tôi, một người Việt Nam, không thích, không muốn bàn luận tôn giáo, vì cái thảm trạng của những "tín đồ" là chỉ biết tin theo mà không bao giờ dùng khả năng lập luận. Tôi chỉ thấy đây là một chứng cớ hiển nhiên, hùng hồn nhất để phủ nhận sự tồn tại quyền hành của Ðảng Cộng Sản Việt Nam trên đất nước tôi.

Ðồng chí ơi! Hãy nhìn quê hương sáng chói như thế đấy!

Nguyên Khả Phạm thanh Chương.

Viết Xong phần này, đất tạm dung, ngày mùng 7 Tháng 2 năm Tân Tỵ (1-3-2001)

Lời tạm biệt:

Khi Tôi vừa viết xong những tâm sự, suy nghĩ tản mạn Lối Về này, thì cũng là lúc phỉ quyền Cộng Sản khép chặt vòng vây, gia tăng đàn áp phong trào đòi tự do tôn giáo, ngôn luận báo chí. Cùng lúc cựu giám đốc KGB (cơ quan vấy đầy máu nhân dân Nga thời Sô Viết), đương kim tổng thống Nga thăm ViệtNam, làm tôi nghĩ dến những Boris Paternak, Soljzenitsyn!!! Bên ngoài quê hương tôi, đoàn ca sĩ lưu diễn quốc nội cũng đang bị những người Mỹ gốc Việt bao vây hò hét! Cá nhân tôi, cũng nhận được những tín thư ưu lo, khích lệ, cảnh cáo, trực tiếp gián tiếp! Những cảnh cáo, khích lệ và ưu lo cũng đến từ hai phía: Ðồng bào, anh em bạn hữu nơi quê nhà và những người ngoại quốc gốc Việt khắp nơi.

Buồn vui lẫn lộn nhưng rất trân quí! Tôi trân quí tất cả những ưu lo cảnh cáo, khích lệ đó. Nó đã giúp tôi sáng suốt hơn, vững chãi hơn trên những chặng đường sắp tới mà tôi đã chọn để đi hết phần còn lại của đời mình. Những trở ngại, chông gai mà những ưu lo, cảnh cáo từ hai phía đã nhắc nhở tôi, thật ra là tất cả những gì tôi đã lượng định từ trước, trước khi đặt chân về Quê Hương dấu yêu lần đầu. Ðối với tôi chỉ là những bùn sên nơi cống rãnh.

Thật ra cái trở ngại lớn nhất lúc này trên Lối Về chỉ là lòng nghi kỵ sợ hãi, căn tính của những loài bò sát, một thói quen tồi tệ của kiếp người nô lệ. Trên lối về quê hương, Tôi sẽ để quá khứ của tôi về đứng vị trí của nó: ngăn keó lưu trữ kinh nghiệm. Tôi không trung thành với bất kỳ một thể chế chế độ nào! Tôi cũng không trung thành với tổ chức, đảng phái nào cả! Tôi lại càng không trung thành với cá nhân lãnh tụ, chí sĩ nào hết! Tôi, một công dân, một người Việt Nam, chỉ có bổn phận, trách nhiệm trung thành tuyệt đối với tổ quốc, dân tộc tôi! Với quyền lợi của đất nước nhân dân! Với lý tưởng tự do dân chủ. Như vậy tôi sẽ chẳng bao giờ súc hoá con người tôi với những ấn dấu đỏ xanh! Tôi cũng chẳng nô lệ hoá tôi bằng cách tự thích lên trán mình những chữ biệt phân chính trị ngắn hạn Cộng Sản, Quốc Gia v.v Những ấn dấu xanh đỏ ấy nó cô đọng, ngưng trệ và khô cứng. Tôi là một con ngườ i có tư duy phát triển và vô thường!

Nhưng lối về mà tôi chọn lựa không hoang vắng, đơn lẻ. Trước mặt tôi những hình ảnh thanh thản hiên ngang tiến bước nhấp nhô rộn rã: Nguyễn Ðan Quế, Thượng Toạ Quảng Ðộ, Thượng Toạ Huyền Quang, Giáo Sĩ Nguyễn Văn Lý, Hà Sĩ Phu, Ông lính già Trần Ðộ, Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Hoàng Tiến, Dương Thu Hương vv.... Và bao nhiêu người khác tôi chưa đuợc biết tên, hay họ đang đi xa phía trrước hoặc phía sau, mà tầm nhìn thiển cận của tôi chưa tới. Trên lối về, tôi đã thấy rải rác những nhịp cầu sừng sững như Vũ Huy Cương còn mới nguyên màu sắc thế kỷ này, nối sau những nhịp cầu sắt thép hùng vĩ của cụ Phan Khôi, Phùng Quán, Hoàng Cầm v.v đã dựng lên từ nửa thế kỷ trước ... Tôi thấy quá đầy đủ, rõ ràng và ấm cúng. Không đi, không thể làm người được!

Nguyên Khả Phạm thanh Chương.

Hoàn tất Lố i Về, đất tạm dung, ngày mùng 9 Tháng 2 năm Tân Tỵ (3-3-2001)

24 Mac Pherson st Footscray Vic 3011 Australia

--------------------------------------------------------------------------------

[1] Vũ Thư Hiên "Ðiếu Vu Huy Cương, "Nhân cái chết của một người"

[2] Vũ thư Hiên như trên.

[3] Vũ thư Hiên như trên

[4] Vũ thư Hiên như trên

[5] Xin đọc thêm Nguyễn Minh Cần, "Chuyện nước non", "Công Lý Ðòi Hỏi" Văn Nghệ Xuất Bản.

[6] Xin tìm đọc thêm, Văn Thanh, "Gái Hà nội khóc ai", "Vũ Th Hiên và cuốn sách "Ðêm Giữa Ban Ngày". Thế Giang "Thằng người có đuôi"

. [7] Văn Thanh như trên, Jean ValJean là nhân vật chính trong ẪNhững kẻ khốn cùngỮ của văn hào Pháp Victor Hugo.

[8] Tưởng Năng Tiến "Nhà có hoa Anh đào".

[9] Lời kể của BS Trần Kim Tuyến với Duyên Anh, ghi lại trong Vũ Trung Hiền, "D.A và Tôi, những câu chuyện bên ly rượu" 1-2000

[10] Những gia thoại này đầy ngoài Bắc. Bất cứ anh Cán nào cũng có một "tủ" dự trữ.

[11] Tài liệu đọc thêm về những vụ tàn sát khác trước khi vụ Mỹ Lai xảy ra. Ðẻ thấy nhà cầm quyền miền Nam bưng bít cho lính Mỹ như thế nào: Peers Report- Russell International War Crimes Tribunal, Four Hours in My Lai by Michael Bilton and Kevin Sim Facing My Lai: Moving Beyond the Massacre by David L. Anderson My Lai: A Brief History With Documents by James S. Olson et al

[12] Ca dao mơí Hà Nội

[13] Ông Nguyễn Minh Cần, Cựuphó bí thư thành ủy Hà nội

[14] Xin tham khảo các tài liệu cận sử Việt nam như "Từ Thực Dân Ðấn Cộng Sản" của cụ Hoàng Văn Chí, Bên Giòng Lịch Sử của Cao Văn Luận, hay những luận văn sử học của Vũ Ngự Chiêu Ph.D

[15] ý thơ Nguyễn Chí Thiện "Hoa Ðiạ Ngục"

[16] Ý kiến tham khảo. Trần Khuê "Ðối Thoại 2000,2001"...

[17] Xin xem thêm chi tiết của những chứng nhân như "Nguyễn Minh Cần, Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Trần Thư, Nguyễn văn Trấn v.v

[18] Nguyễn văn Trấn "Viết Cho Mẹ và Quốc Hội" Chuong 3: Gặp Bác Hồ

[19] Như Trên..

[20] John Pilger "Hidden Agendas", Vintage xuất bản, 1998, phần "The Noble Cause" trang 560

[21] Xin xem "the Asian can say No" của Mahathir và dân biểu Nhật Shiahara (???)