Make your own free website on Tripod.com

HIỆP ĐỊNH Đ̀NH CHIẾN GIƠ-NE-CHIA CẮT ĐẤT NƯỚC-ĐÂU LÀ SỰ THẬT ?

Cách đây 50 năm vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, hiệp định đ́nh chiến Giơ-Ne được kư kết, đánh dấu sự chấm dứt của ách thống trị Pháp trên đất nước Việt Nam sau gần 100 năm đô hộ (1858-1954). Theo điều khoản hiệp định này với phần quân sự và giải pháp chính trị tiếp theo, hai bên Pháp và Việt Minh ngưng bắn, lui quân về vùng phe ḿnh kiểm soát, dân chúng trong hai vùng được tự do lựa chọn vùng sinh sống và di chuyển đến đó. Và  sông Bến Hải trở thành  lằn ranh “giới tuyến quân sự tạm thời” với vĩ tuyến 17 chạy ngang trên chính ḍng sông phân định khu vực kiểm soát của Pháp và Việt Minh trong khi chờ đợi tổ chức tổng tuyển cử trong ṿng 2 năm sau khi giai đoạn của giải pháp chính trị nối tiếp giai đoạn đ́nh chiến.

Trong bối cảnh « hậu-Điện Biên Phủ » với toàn bộ lực lượng tinh nhuệ của đoàn quân viễn chinh Pháp (độ 5% tổng số quân Pháp)  bị tiêu diệt và tiếp theo là chiến thắng vang dội đánh tan chiến đoàn cơ động 100 (Groupe Mobile 100) của Pháp tại gần đèo Mang Yang trên quốc lộ 19-cây số 15 chưa đầy 1 tháng trước đó (ngày 24 tháng 6 năm 1954). Phe Việt Minh lẽ ra c̣n đạt được nhiều điều khoản có lợi hơn là những ǵ được thỏa thuận. Chiến thắng đường 19 gần Pleiku ở vùng Tây Nguyên nước ta, là khi chiến đoàn cơ động GM100 bị phục kích khi triệt thoái về Pleiku từ An khê. Đó là đ̣n « ân huệ » cuối cùng cảnh báo Pháp về ư chí chiến đấu của quân và dân Việt Nam trước mọi cố gắng-âm mưu níu kéo lại sự hiện diện thực dân tại Việt Nam. Nhận thức rơ ràng về điều này, Pháp hoàn toàn mất hẳn ư chí chiến đấu tại Đông Dương trong thảm bại quân sự và sa lầy về chính trị và chỉ mong kư kết rút quân, « bỏ của  chạy lấy người », dù 80% chiến phí được cung cấp bởi Mỹ, nhân danh cuộc chiến chống Cộng Sản chặn đứng làn sóng đỏ (Điều mỉa mai cuối cùng của cuộc chiến là đơn vị chủ lực của  chiến đoàn GM100 bị tiêu diệt là trung đoàn thiện chiến « chí nguyện quân » Cao Ly (Hàn quốc)  của Pháp từng sát cánh với Mỹ trong cuộc chiến Triều Tiên). Việt Minh khi đến bàn hội nghị trong thế mạnh rơ ràng không có nhu cầu nhượng bộ với tất cả các chiến thắng nói trên.

Nhưng hội nghị Geneve với sự tham dự của tứ cường Anh-Mỹ-Pháp-Liên Xô và Trung Quốc- cùng Việt Nam, được tổ chức để đàm phán về việc thu xếp các điểm nóng giữa hai khối Tư bản-Cộng sản mà trong đó Việt Nam là một. Với t́nh h́nh quốc tế lúc này đang đi vào một « pha » hoà hoăn, Việt Minh bị hai “quốc gia” đàn anh lớn là Trung Quốc và Liên Xô kèm lại trong việc thương thuyết, đàm phán với chủ đích quyền lợi và mưu đồ riêng đựng dài của họ (TQ-LX). Trung Quốc không muốn thấy một nước Việt Nam thống nhất, độc lập mạnh về quân sự dưới sự lănh đạo của ông Hồ chí Minh và đảng cộng sản VN, nên đă ngăn không cho phe Việt Minh đ̣i giới tuyến quân sự tạm thời ở vĩ tuyến 13 (Thật sự, nếu Pháp rút toàn bộ khỏi Việt Nam lúc đó, Việt Minh là lực lượng mạnh nhất đủ khả năng tiếp thu tất cả Việt nam).  Đồng thời, Ngoại Trưởng Chu-Ân Lai của Trung quốc cũng « bắn » tiếng ngầm sẵn sàng công nhận « nhất quốc-lưỡng chế » với hai chế độ khác nhau : thể  chế  CS tại Bắc Việt Nam , và CH tại miền Nam cho phái đoàn “quốc gia” Việt Nam. Ông Chu Ân Lai cũng ngỏ lời dọ dẫm thiết lập bang giao giữa Trung Quốc và phe “quốc gia” Việt Nam với ông Ngô Đ́nh Luyện trước sự bực tức của ông Phạm Văn Đồng và phái đoàn Việt Minh ;  rồi sau đó đích thân gửi thư đến thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm, nhưng tất cả đều không đạt kết quả.

Mỹ do không tin và nghi ngờ Pháp nên giữ thái độ lừng khừng với chủ ư riêng của ḿnh nên chỉ cử một phái bộ cấp thứ trưởng (Assistant Secretary) tham dự hội nghị với tư cách quan sát viên dù trước đó ngoại trưởng Mỹ Dulles có ghé Pháp vào tháng 4. Đồng thời, Mỹ cũng nghiên cứu ngầm các giải pháp chính trị riêng cho Việt Nam theo kiểu Mỹ cũng như việc tăng cường phái bộ viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam (MAAG-Military Assistance & Advisory Group, tức tiền thân MACV-bộ tư lệnh các lực lượng Mỹ tại Việt Nam) để trực tiếp can thiệp vào Việt Nam « ngăn chặn làn sóng đỏ Cộng Sản ».

Liên Xô với ư định hoà hoăn với phương Tây sau chiến tranh Triều Tiên, thông qua ngoại trưởng Molotov cũng khuyên ông Đồng chấp nhận vĩ tuyến 17 làm lằn ranh ngưng bắn tạm thời để lực lượng hai bên đ́nh chiến khi phái đoàn Việt Minh mặc cả từ vĩ tuyến 13 xuống vĩ tuyến 16, lúc này phía Pháp đề nghị vĩ tuyến 18. Cả hai phái đoàn “quốc gia” Việt Nam và Việt Minh đều chống lại sự chia cắt đất nước và xem cơ hội tổng tuyển cử sau đó như cách thức để giải quyết vấn đề chính trị cho Việt Nam. Cuối cùng vĩ tuyến 17 được chấp nhận như giới tuyến tạm thời phân định khu vực kiểm soát của hai bên Pháp Việt cho đến khi Pháp rút hẳn hai năm sau, và bàn giao khu vực lại cho chính quyền của quốc trưởng Bảo Đại hầu chuẩn bị cho việc tổng tuyển cử.

Hiệp định đ́nh chiến gồm 47 điều được kư kết và một bản tuyên ngôn không chính thức về tổng tuyển cử dưới sự giám sát của Ủy hội quốc tế. Phái đoàn “quốc gia” đă không kư duyệt tuyên ngôn này và ra tuyên ngôn riêng với đ̣i hỏi sự giám sát tổng tuyển cử của Liên hiệp Quốc.

Ngay sau đó, hai phe Việt Minh và “quốc gia” Việt Nam của quốc trưởng Bảo Đại lập tức củng cố vị trí của ḿnh… Cơ quan t́nh báo trung ương Mỹ Xê-I-A  tung ra các kế hoạch tâm lư chiến hầu cổ vơ càng đông người di cư vào Nam cáng tốt và lên kế hoạch phá hoại hạ tầng cơ sở miền Bắc như nhà máy điện, cầu cống..v.v..Gần một triệu đồng bào miền Bắc được tàu Mỹ và Pháp gíúp đỡ di chuyển vào Nam để tạo hậu thuẫn cho phe “quốc gia” trong thời kỳ non nớt nhưng nhiều chia rẽ trong hàng ngũ không cộng sản.

Ông Ngô Đ́nh Diệm, một vị quan cũ của triều đ́nh Huế, với sự tiến cử của  Hồng y Spellman với anh em ngoại trưởng Dulles, và được Mỹ « bốc » về làm thủ tướng-phụ tá cho quốc trưởng Bảo Đại của chính quyền “quốc gia” Việt Nam sau thời gian lưu vong tại hải ngoại. Mỹ lập tức gia tăng việc viện trợ quân sự và kinh tế cho miền Nam hầu loại ảnh hưởng thực dân Pháp, và hy vọng xây dựng một chính quyền mạnh, củng cố tiền đồn mới này của Mỹ  để đối mặt với phe cộng sản.

Các phe Việt Minh và các đảng phái lớn như Đại Việt, Quốc Dân đảng đều ngầm chôn giấu vũ khí, cài người cùng mạng lưới tổ chức lại trong vùng thuộc phe đối phương kiểm soát -đề pḥng bất trắc trong khi chờ đợi tổng tuyển cử v.v trước khi xảy ra làn sóng phe Việt Minh tập kết ra Bắc- và ngựi của các đảng phái không CS khác dời vào Nam . Các thành phần « nằm vùng » này ở miền Nam sau này đă lập ra Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam hầu ngụy trang việc miền Bắc cộng sản đem người xâm nhập tấn công miền Nam. Các mạng lưới của Đại Việt và Quốc Dân đảng ngoài Bắc tại Hà Nội, Hải pḥng đều bị mạng lưới an ninh-công an khám phá và truy quét bắt giữ sau một thời gian hoạt động dài như mạng lưới Quốc Dân đảng chỉ bị phát hiện vào năm 1965, 11 năm sau hiệp định đ́nh chiến. Ông Diệm có liên lạc với các lănh tụ với các đảng phái này hầu kêu gọi họ đặt các mạng lưới đảng viên cài lại này ở miền Bắc dưới sự kiểm soát của chính quyền và các cơ quan t́nh báo miền Nam. Nhưng do sự nghi kỵ, ngờ vực, cũng như sự hiện diệm « mạnh mẽ và rơ rệt » của Mỹ bên cạnh ông Diệm,  rằng ông Diệm cần những chi tiết này với mục tiêu cá nhân hầu nắm rơ cơ cấu-tổ chức các đảng phái đối lập khác với đảng Cần Lao, nên các đảng phái khác đă nghi ngại và tránh hợp tác với các cơ quan miền Nam của ông Diệm.

Sau khi củng cố quyền lực của chính quyền trung ương, ông Diệm giải tán  các lực lưọng không cộng sản khác, bằng vũ lực với sự trợ giúp của quân đội các lực lượng bán quân sự của B́nh Xuyên do tướng cướp Bảy Viễn cầm đầu. Khỏi đầu là chiến thắng Rừng Sát do tướng Dương Văn Minh chỉ huy truy quét tàn quân B́nh Xuyên và Cao Đài, Hoà Hảo. Trong việc b́nh định miền Tây Nam Bộ, chính quyền Diệm đă tuyên án tử h́nh đối với tướng Ba Cụt-Lê Quang Vinh, một thủ lĩnh nông dân của miền Tây khiến uy tín nhà nước sứt mẻ, tinh thần đoàn kết quốc gia mất « sinh khí» không ít- Quần chúng nghi vấn cho là Diệm chiêu dụ ông Ba Cụt đầu thú rồi giam giữ tuyên án bị can.

Tiếp đến, ông Diệm đă tiến hành truất phế quốc trưởng Bảo Đại, để trở thành tổng thống và khai sinh ra nền đệ nhất Cộng Ḥa của miền Nam- khi ông « được lệnh » từ chối cùng với miền Bắc tổ chức tổng tuyển cử, mà Mỹ và ông biết là chế độ của ông không có khả năng thắng cử trước hào quang chống Pháp của Việt Minh và lănh tụ Hồ Chí Minh- người làm chính trị kiệt xuất, đứng đầu Việt Minh trong cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp trước đó. Theo tinh thần pháp lư, th́ nền đệ Nhất cộng ḥa không tham dự và không kư hiệp định Giơ-Ne nên không tuân thủ là đúng-  Nhưng hiểu theo nghĩa rộng, th́ nếu VNCH  nhận là hậu thân, tiếp nối của chính quyền Bảo Đại- « quốc gia » Việt Nam trong liên hiệp Pháp, th́ có bổn phận thi hành hiệp định này. Đáng tiếc là sau đó, dù không chung sống với cộng sản bằng tổng tuyển cử, những người không cộng sản, do nhiều nguyên nhân, cũng đă không xây dựng dân chủ tại miền Nam để kiến tạo sức mạnh thật sự- tệ hại hơn miền Nam đă để cho sự hiện diện của Mỹ (ngoại bang da trắng) không những quá lộ liễu mà c̣n rơ ràng lấn áp cơ chế chính quyền, điều không thể chấp nhận đưọc ở một đất nưóc Á Đông vừa thoát nạn thực dân da trắng. Và hậu quả đă dẫn đến việc thất trận trong cuộc nội chiến Nam Bắc 21 năm sau đó. Năm 1959, Hà Nội tổ chức đoàn xâm nhập vào Nam đầu tiên, đoàn 559 để mở con đường tấn công miền Nam. Trận chiến Đông Dương « màn hai » từ từ âm ỉ bốc cháy dần trở lại !!

Cũng xin ghi rơ ở đây về việc trở lại Đông Dương của Pháp và sự bùng nổ của chiến tranh Việt Pháp.

Sau khi Nhật đầu hàng, phe thắng trận thế chiến thứ Hai quyết định rằng quân Nhật ở Việt Nam được giải giới và bị quản chế bởi quân Tàu-Quốc Dân đảng ở phía Bắc, và quân Anh ở phía Nam. Hàng chục vạn quân Tàu đă vượt biên giới để vào tiếp thu và giải giới quân Nhật đầu hàng tại miền Bắc nước ta. Quân Anh vào Sài G̣n từ tháng chín năm 45, đă nhanh chóng giúp Pháp tái lập lại trật tự thuộc địa, phủ nhận quyền hạn của Việt Minh. Sau đó, Pháp đă nhanh chóng đưa quân ra toàn quốc để tái kiểm soát Việt Nam- đầu tiên là miền Tây Nam bộ và lập lại trật tự thuộc địa. Quân Pháp đă trở lại đổ quân đóng chốt ở Hải pḥng và Hà Nội trước khi cuộc chiến bùng nổ. Với hai kẻ thù trên miền Bắc (quân Tàu và quân Pháp), ông Hồ đă tạm ḥa hoăn, kư hiệp định Fontainebleau, công nhận một việc « đă rồi »-sự hiện diện của Pháp để đánh đổi việc quân Tàu rút lui. Kẻ thù ở xa không lợi hại bằng hàng chục vạn quân Tàu sát nách. Đồng thời, ông cũng lợi dụng thời gian này củng cố lực lượng cộng sản và tiêu diệt các đảng phái không cộng sản khác. Do sự sơ hở và phân hóa tương tranh trong hàng ngũ của những thế lực không cộng sản này, dù trước đó kinh nghiệm đă cho biết là ông Hồ (CSVN) mật báo với Pháp về tung tích cụ Phan Bội Châu để lănh thưởng-điều mà lẽ ra họ phải biết đề đề pḥng cộng sản- Hậu quả là các thành phần không cộng sản đă bị tiêu diệt trong phong trào Việt Minh. Ông Hồ không hổ danh là cáo già chính trị khi cùng lúc xoay sở đối mặt với nhiều đối thủ (Pháp, quân Tàu, các đảng phái không cộng sản) nhưng vẫn tạo ra và dành ưu thế về ḿnh. Không thể chối bỏ đưọc bản lănh chính trị cao của ông Hồ trong lối tiến thoái này !

C̣n Pháp, khi trở lại Việt Nam, đă nhất quyết tái lập trật tự thuộc địa để « rửa hận » bị Đức đánh bại và đô hộ nên việc tấn công Việt Minh chỉ là  vấn đề thời gian - sau khi chờ triển khai đầy đủ lực lượng và hỏa lực. Các thuộc địa với các tài nguyên là nguồn lợi cần có cho mẫu quốc sau 6 năm chiến tranh và bị chiếm đóng kiệt quệ (39-45). Người Pháp với chính sách thuộc địa cai trị trực tiếp, khác với người Anh cai trị qua các phó vương và lănh tụ sở tại, không có nhu cầu trao trả độc lập cho Việt Nam. Tất cả các nước được trao trả độc lập sau thế chiến, hầu như là thuộc địa của Anh chứ không phải của Pháp. Những ngựi lập luận rằng không cần đấu tranh vơ trang Việt-Nam cũng sẽ « đưọc trả » độc lập- đă cố t́nh hoặc vô ư không nh́n ra khía cạnh này !

Thái độ cần thiết của chúng ta hôm nay.

Đă đến lúc người Việt Nam cần nh́n lịch sử một cách đúng đắn không thiên lệch phe phái. Có như vậy, ta mới « b́nh thường hoá » được hai chữ chính trị. Ở Việt Nam ta, chính trị là cái ǵ ghê gớm lắm. Tuy người ta học chính trị ở trường đại học-không đủ điểm không ra trường, hội thảo chính trị, học tập chính trị nhưng lại không được bàn « chính trị » ngoài đề tư tưởng Mác-Lê và Hồ chí Minh. Nếu nói tới cái ǵ không dính dáng ăn nhậu với những bài giảng tức là lại phải mắt láo liên sợ bị ghép vào « âm mưu diễn tiến ḥa b́nh » hay « phản động ». Nhu cầu « nói với nhau » về chính trị trở nên cấp thiết khi ta thấy đất nước chúng ta vẫn c̣n kẹt trong cái kén, cái ṿng kim-cô cộng sản, dù CSVN đ̣i « đổi mới »…Số công ty tư nhân và khu vực kinh tế tư nhân vẫn c̣n bị nghi kỵ truy bức bởi nhà nước và các xí nghiệp quốc doanh…Phần lớn các sinh viên ra trường không t́m được việc làm phù hợp với chức năng- khả năng chuyên môn. Nó bao gồm cả các sinh viên đi du học-tu nghiệp nước ngoài về. Đa số sinh viên cầu mong kiếm được một chỗ làm trong cơ quan-xí nghiệp nhà nước để có giờ….tán gẫu, chơi tṛ-chơi-điện toán- và .. ngủ trưa. Có người phải chạy tiền, cả ngh́n mỹ kim, để làm trong một xí nghiệp quốc doanh ở Vĩnh Phú, hai ngh́n mỹ-kim để được làm ở bưu điện Hà Nội. Những sự kiện này đă phản ánh rơ t́nh trạng bi đát của đất nưóc là :  ngay chính tài năng của ǵói trẻ trong nước c̣n chưa đưọc dùng đúng mức, đúng cách, dùng chưa hết, mà  đă để  phí phạm thui chột , th́ nói chi đến kêu gọi kiều bào, người Việt tại nước ngoài đóng góp xây dựng !!!???.

Khi nói với nhau, trao đổi trong phong thái b́nh thường về chính trị, ta mới có thể bàn căi đến phương án tối ưu trong việc điều hành đất nước và cuộc sống của nhân dân, lựa chọn người đại diện ḿnh làm việc-điều hành trong bộ máy hành chính. Khi có cạnh tranh th́ lập tức, sự phục vụ được cải thiện…Điều đó đúng với thị trường điện thoại di động khi sự có mặt của Viettel khiến cái « đại gia » khác xuống giá ầm ầm, nâng cao chất lượng phục vụ…dù Viettel chưa chính thức ḥa mạng. Trong chính trị, nó cũng đúng như việc chính quyền Phi-luật Tân dưới sự lănh đạo của tổng thống tái đắc cửa Arroyo đă lập tức rút quân từ Iraq về để cứu con tin bất chấp sự bực bội của đồng minh Mỹ. Nhà nước dân chủ Phi chịu sức ép của nhân dân Phi chứ không phải Mỹ. Sự phục vụ của nhà nước với nhân dân được nâng cao nhờ dân chủ, tự do ngôn luận : tiếng nói nguyện vọng của ngựi dân đưọc cất cao và loang xa !!!

Khi chính trị, (Thể chế, biểu tượng cờ quạt, lư thuyết, chủ nghĩa v.v)  không c̣n là một đề tài cấm kỵ, hay « xúc phạm » th́ mầm dân chủ đă tự nảy sinh và sẽ được phát huy trong tâm tư mỗi người dân Việt Nam. Họ không cần đến những dự luật nhân quyền của nước ngoài để có được dân chủ, tự do. Họ sẽ đạt được tự do ngay chính trên đất nước ḿnh và đ̣i hỏi những quyền cơ bản khác như tự do hội họp, lập đảng, đ̣i tách đảng (cộng sản) ra khỏi chính quyển, đảng cộng sản sinh hoạt chính trị b́nh thường như mọi đảng phái khác-từ bỏ bạo lực cách mạng và chuyên chính vô sản. Tách đảng ra khỏi các lực lượng vũ trang, an ninh, thuế vụ…v.v (Ô hay ! v́ sao vào trường cao đẳng Hải quan lại cần lư lịch tốt, khó hơn vào đại học Bách khoa ??..)

Nhà nước viện dẫn cần ổn định để phát triển kinh tế với mô h́nh các nước như Xing-ga-po. Nhưng ́ ạch mà kinh tế vẫn chưa phát triển đủ để có việc làm cho đa số sinh viên tốt nghiệp cũng như các công dân ở vào  lứa tuổi lao động trên toàn quốc, thế th́ ta cần bàn lại mô h́nh phát triển và mô h́nh chính trị hầu đưa nước ta thành công trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hóa và dân chủ hóa đất nước. Để tiến hành tốt việc này, điều đầu tiên là b́nh thường hoá việc nói với nhau về chính trị - về đấu tranh dân chủ- Có nghĩa là  không bịt miệng công dân ḿnh như nhà nước CSVN đă và đang làm với các công dân Trần Khuê, Phạm Quế Dương, Nguyễn Vũ B́nh, Lê Chí Quang v.v  và SẼ c̣n nhiều nữa…  V́ khát vọng đưọc nói những ǵ ḿnh thấy và nghĩ ra  để chia sẻ với đồng loại, không chỉ là quyền chính trị  mà đó chính là bản năng tự nhiên và cũng chính là hạnh phúc của con ngựi !

Minh Triết 7/04