Dân chủ, Đa Đảng hay Độc Đảng Độc Tài.

 

Mỗi quốc gia có một hoàn cảnh văn hóa lịch sủ, địa dư duy nhất, và thời điểm duy nhất không nước nào giống nước nào. Độc tài mỗi nơi mỗi cách, Đảng trị, mỗi chốn mỗi loại. Nhưng những điểm chung vẫn là tham quyền cố vị, chà đạp nhân quyền bằng mọi cách. Dân Chủ mỗi hệ thống mỗi khác, nhưng điểm chung vẫn là người dân được tôn trọng, nhân quyền được bảo vệ bởi pháp trị.

 

Trong nửa thế kỷ thứ 20 và đầu thế kỷ 21 này, bài toán dân chủ tự do, phát triển vẫn còn xa vời với nhiều dân tộc trên thế giới. Đối với những nước cựu thực dân, đế quốc vấn đề không còn được đạt ra dân chủ hay không, mà là bảo vệ môi sinh, bảo vệ quyền của súc vật, và điều hoà chu kỳ kinh tế để lưu giữ phát triển. Nhưng đối với đại đa số các quốc gia khác, đậc biệt đối với những cựu thuộc địa, những câu hỏi vẫn thường đặt ra quanh quẩn trong ý niệm "Dân chủ giới hạn, hay Giới hạn dân chủ " "Ồn định chính trị. để phát triển kinh tế, hay "Phát triển kinh tế để ổn định chính trị". Và ngay cả cái ý niệm nên độc đảng, một hình thức "quân chủ tập quyền", tưởng đã đi vào lịch sử, nay lại trỗi dậy với những lập luận mới.

 

Do đâu mà ra? Nó như thế nào? Vấn đề phúc tạp cần nhiều thí dụ từ nhiều lịch sử cận đại nhiều quốc gia để minh chứng dù mỗi quốc gia mỗi khác. Ta hãy cứ mổ sẻ xem nó ra sao.

 

I-Tại sao các nước thuộc địa khi thoát gông cùm thực dân lại hầu như lọt lại vào vòng độc tài hay đảng trị?

 

Nền thực dân trải ngắn dài trên từng quốc gia, tuỳ vào từng thời điểm. Nhưng ngắn nhất có lẽ chỉ có Trung Hoa nằm dưới sự đô hộ của Nhật. Riêng Việt Nam cũng gần 100 năm. Thông thưòng có cả hàng thế kỷ. Như thế tình trạng phát triển kin tế, giáo dục, và nhất là chính trị với những ý niệm tự do, nhân quyền nhân bản hầu như rất xa lạ đối với đại đa số quần chúng. Ngay cả đối với những thành viên bình thưòng của các tổ chức kháng chiến giành độc lập tự do dân chủ cũng vậy. Trừ một thiểu số lãnh đạo họ nắm vững để vận động dư luận mà thôi. Tư tưỏng nhân bản tự do cũng lan truyền giới hạn trong cộng đồng sắc tộc của họ. Ý niệm bình đẳng được hiểu là sự binh đẳng giữa "đàn ông" với nhau, và giữa những giống dân da trắng mà thôi.

 

1.1 Hậu quả của chính sách thực dân: Dân trí thấp.

 

Như vậy hậu quả ở các nước thuộc địa còn tệ hại thế nào khi sự nghèo khó, nô lệ, xáo trộn đã kéo dài hàng thế hệ. Vì thế ngay sau khi dành được độc lập, vì ước vọng đầu tiên rõ ràng nhất là độc lập, cho nên người dân thường vẫn trung thành với những lãnh tụ, đảng phái đã tranh đấu cho nền độc lập. Họ không còn hơi sức và thời giờ để nghĩ đến tự do dân chủ, hoặc có nghi đến cũng ngại ngùng khi phải đứng ra chống đối giới lãnh đạo với hào quang anh hùng đang rực sáng.

 

1.2 Bảo Mật, Tuân Lệnh Tuyệt Đối: Thói cũ khó bỏ

 

Hơn nữa,trong thời chiến tranh, tranh dấu vì nhu cầu bảo mật trong hoàn cảnh "bất hợp pháp". Những kỹ năng, phương pháp không cần dân chủ: bí mật, tuyệt đối thi hành lệnh, bạo động, khủng bố. Tất cả đã được tập nhiễm. Không thể dứt bỏ một sớm một chiều. Cứ nhìn tổ chức PLO của Arafat, cái vấn nạn của Palestin, thì sẽ thấy ngay trước mắt.

 

1.3 Tính Công Thần

 

Sự gian khổ, chịu đựng hy sinh, mất mát trong công cuốc tranh đấu đã đưa thêm ý thức công thần nẩy nở mạnh, nên không muốn nhường quyền xây dựng đất nưóc, hay chia sẻ trách nhiệm, với những người khác đã không cùng mình tranh đấu, hoặc ở phe khác. Ý thức xây dựng đất nước được hiểu thành chiến công, quyền lợi, và chiến lợi phẩm.

 

1.4 Mị dân

 

Đối với đại đa số quần chúng, thiếu hiểu biết về ý thức, cơ chế dân chủ, lại quá mệt mỏi, cần những giải pháp đơn giản, nhanh gọn mà những lãnh tụ mị dân lại thường xử dụng để hứa hẹn mà không chú ý đến tính bất khả thi của nó. Dân chúng không còn thời gian, trí thức, hay sức lực để kình chống lại những anh hùng kháng chiến.

 

Không phải chỉ ở Á, hay Phi đâu. Ở bất kỳ thời điểm nào, nơi nào khi những xáo trộn khủng hoảng đã qua người dân thường vẫn có thái độ như thế. Như Hitler của Đức, Mussolini của Ý, Franco của Tây Ban Nha, Pinoche của Chi lê v.v Và ở Việt Nam là Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản. Nếu bầu cử tự do được thực hiện ngay sau 1954 như đã dự định chắc chắn Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản sẽ thắng, nếu không dám nới là thắng lớn. Chiến thắng Điện Biên Phủ sáng chói. Lại hứa đem bình đẳng chia của người giàu có cho người nghèo. Dân trí ấy, thời điểm ấy, công trạng ấy! Ai không theo!!!

 

Không cần phải dẫn chứng thêm Suharno của Nam Dương, Marcos của Phi luật Tân, Kim Nhật Thành của Bắc Hàn.

 

Yếu tố quan trọng nhất là ý thức dân chủ và dân chủ lại là một tiến trình tiến hóa nữa, chứ không phải ban hành là có ngay được. Nước Mỹ cho đến hôm nay, sau bao nhiêu thay đổi kinh tế, xáo trộn xã hội, phát triển giáo dục để đưa đến những tu chính hiến pháp, người dân mới có những quyền dân chủ thực sự tiến bộ bây giờ. Nước Anh cho đến ngày nay mới vừa bỏ chế độ thế tập ở Thượng viện quí tộc. Nó là cả một tiến trình vừa làm vừa học không ngừng nghỉ của Dân Chủ Đa Đảng, tương tranh sáng tạo. Học ở cái sai, loại cái dở, chọn cái đúng. Nhưng vẫn phải làm. Phải thi hành. Không bao giờ hoàn hảo nhưng vẫn tốt nhất và hữu hiệu nhất. Thành quả chứng minh. Dĩ nhiên không thể chối bỏ những "ưu đãi" kinh tế, đơn phương thừa hưởng từ thời bóc lột các nước thuộc địa.

II- Vấn đề dẫn chứng kinh nghiệm độc đảng ở các quốc gia phát triển.

 

Ngày nay, khi lập luận cho hình thái dân chủ độc đảng, vẫn còn nhiều chuyên gia chính trị kinh tế viện dẫn trường hợp Đức, Nhật, Đại Hàn v.v để làm luận cứ cho nhu cầu độc tài độc đảng trong thời kỳ tiền phát triển. Nó có nhiều ngụy chứng, ngụy biện hàm hồ, mà tính phiến diện dễ thấy. Vì họ cố tình bỏ sót nhiều yếu tố chính trị quốc tế cũng như điều kiện và hiện trạng phát triển cộng hưởng của thời đại bấy giờ tác động. Cái sai thứ nhất và rõ rệt nhất, nếu nó đúng, độc đảng, thì những quốc gia độc đảng đã phát triển trong nửa thế kỷ qua!

 

1- Nhât Bản:

 

Nhât Bản là một trường họp rất đặc biệt ở Á Châu. Một nước quân chủ, nho giáo, sau khi thất trận, hoang tàn, đã ngoi lên không những bằng mà vượt cả khối Ấu Châu. Chỉ đứng sau Mỹ. Ở Nhật nhu cầu tái thiết, tự ái dân tộc cũng như sự tin tưởng vào các nhân vật lãnh đạo còn cao (không kể lực lượng xã hội đen (ZAKUSA) ) khi Nhật Hoàng vẫn còn ở vị trí tôn quí. Í t ai nghĩ đến nhu cầu thành lập một Đảng đối lập với những chính sách khác khi mà đảng cầm quyền thực sự nỗ lực tái thiết quốc gia. Nhưng chỉ vài năm các đảng phái khác cũng hình thành. Thứ nhất vì có dân chủ thật sự.

 

Cho nên, nếu bảo Nhật Bản là độc đảng thì quá sai và quá phiến diện. Sau năm 1947, nước Nhật được "giám sát" bởi quân đội Mỹ với bản hiến Pháp dân chủ. Thể chế Quân Chủ tượng trưng với lưỡng viện quốc hội gần như theo kiểu đại nghị Anh Cát Lợi. Cơ chế bầu cử trực tiếp từ các quận và một số được đề cử theo đơn vị đảng phái dựa trên kết quả tổng bầu cử quốc gia. Nước Nhật đa đảng ngay từ đầu. Đảng đa số là đảng bảo thủ Tự Do, sau một nhóm trong Tự Do phản đối chính sách thân Mỹ , đứng ra lập đảng Dân Chủ, rồi sau này lại liên hợp trở lại thành Tự Do Dân Chủ (LDP). Các đảng khác như Xã Hội (SP), đảng Tiến Bộ của ông Shigemitsu Mamoru, (PP) , đảng Cộng Sản Nhật v.v

 

Phải nói nước Nhật nhờ có dân chủ đa đảng nên đã không vi phạm những sai lầm trầm trọng của cơ chế độc tài, độc đảng là lạm quyền. Như khuynh hướng gia tăng quyền cho cảnh sát an ninh. Một phần do Mỹ muốn áp lực xiết chặt để ngăn cản phong trào Cộng Sản mà tình hình chiến tranh lạnh làm người Mỹ lo sợ. Như vào năm 1958, đảng Xã hội biểu tình phản đối đảng đương quyền ra đề luật gia tăng quyền lực cho hệ thống cảnh sát. Với 4 triệu công nhân biểu tình đình công. Thủ tướng Kishi phải rút lại đề luật đó. Năm 1963, cũng dưới áp lực của Mỹ, đảng cầm quyền định sửa đổi hiến pháp để tái trang bị quốc phòng, nhưng với sự chống đối của các đảng khác. Thủ tướng Ikeda giải tán quốc hội, bầu lại, và mất thêm 13 ghế!

 

Nếu không đa đảng, liệu Nhật có tiến nhanh đưọc như hôm nay hay không, khi lực lượng Cảnh sát thêm quyền đàn áp, ngân sách chi nặng thêm cho quốc phòng, dĩ nhiên các ngân khoản xã hội khác sẽ phải sút giảm?!?

 

1.1 Những yếu tố cộng hưởng giúp Nhật, Đức phát triển nhanh.

 

Nước Nhật và Đức phát triển nhanh vững chắc, ngoài nền đa đảng dân chủ ra, dĩ nhiên cũng do nhiều yếu tố văn hóa con người . Nhưng không ai có thể phủ nhận đạc tính thời cuộc thế giới của nó.

 

1.1.1-Yếu tố chiến lược toàn cầu của cuộc chiến tranh lạnh khiến Mỹ đã tận tình trợ giúp Nhật, Đức phục hồi để ngăn chặn Nga Sô Viết.

 

1.1 2- Đức, Nhật đều đã có căn bản công nghiệp cao. Dân trí xã hộ lại không bị kiềm tỏa nặng nề nhiều bởi hệ giáo quyền nào cả.

 

1.1 3- Không bị ngân sách quốc phòng chi phối, phí phạm tài nguyên năng lực quốc gia.

 

2- Các trường hợp khác:

 

Để dẫn chứng yếu tố độc đảng, những lý thuyết gia cĩng có thể dùng những quốc gia "hoá rồng" Á châu làm thí dụ. Ta thử xét kỹ tường trường hợp.

 

2.1 Đại Hàn (Nam Hàn):

 

Mà nếu có dẫn chứng Nam Hàn độc đảng để phát triển như ngày hôm nay cũng khiên cưỡng, không đúng. Nam Hàn xáo trộn chính trị do thiếu dân chủ, và cũng bởi nỗi lo sợ phải đối đầu với sự thâm nhập của Bắc Hàn. Nam Hàn trải qua bốn nền Cộng Hoà. Quân đội khống chế, nhưng những hoạt động của các đảng phái nhỏ khác cũng đóng góp trong tiến trình phát triển kinh tế và ý thức dân chủ của đất nước này. Dĩ nhiên phải cộng thêm phần giúp đỡ đặc biệt của Mỹ và đồng minh trong những hợp đồng quân sự và dân sự của Mỹ trong thời kỳ (1959-1975) chiến tranh Việt Nam. Phác Chính Hy sửa hiến pháp để thành "tổng thống muôn năm", diệt dân chủ tận gốc. Nhưng dù kinh tế có phát triển, bất mãn lan rộng, Phác bị ám sát chết năm 1979. Hiến Pháp được sửa để tổng thống chỉ có một nhiệm kỳ duy nhất là bảy năm. Nếu không có những áp lực từ những đảng phái nhỏ, công đoàn, phe đảng quân đội đã không buộc phải thực hiện tiến bộ hóa những chính sách dân sinh, giáo dục để lấy lòng dân.. Và đã không phải sửa đổi hiến pháp để có bầu cử trực tiếp vào năm 1987, khi dân chúng, các đảng phái nhỏ, công đoàn xuống đường biểu tình. Để rồi từ đó quân đội phải nhường chỗ cho dân sự, với sự đắc cử dân chủ của tổng thống Kim Young Sam, và ngày nay Kim Đại Trọng, một nhân vật đảng phái đối lập.

 

2.2 Mãlai:

 

Ở Mã lai và Tân Gia Ba cũng thế, sự thượng phong, không phải độc đảng, của đảng cầm quyền, là sau khi dành đưọc độc lập, nhu cầu kết hợp đã đưa UMNO vào thế thượng phong, người dân gần như vừa nhớ công ơn họ vừa tin tưởng vào khả năng chính sách của họ, cộng thêm vai trò thuần nhất của hồi giáo. Khiến các đảng nhỏ khó cựa quậy. Nhưng vẫn có đủ ảnh hưởng để chính đảng cầm quyền phải luôn luôn dè chừng, thay đổi chính sách vận động lòng dân chứ không tự tung, tự tác tuyệt đối như các chế độ độc tài độc đảng. Mặt Trận Thống Nhất Mã Lai gồm 14 chính đảng, trong đó mạnh nhất là UMNO (United Malays National Organization) Tổ Chức Quốc Gia Mã Lai Thống Nhất. Ngoài ra còn có đảng Dân Chủ Hành Động (Democratic Action), đảng Thống Thất Sabah (Sabah United), đảng Hồi Giáo (Pan-Malayan Islamic), và đảng Tinh Thần 1946 (Spirit of 1946). Đảng UMNO không nắm toàn bộ các ghế quốc hội tất cả các bang trong liên bang Mã. Chính đảng UMNO vẫn cứ phải thay đổi chính sách vì dân để giữ được đảng viên và giữ phiếu. Áp lực của đa đảng đã buộc đảng UMNO phải chấp nhận đường lối cải cách của ông Mahathir, và ông được bầu lại vào quốc hội, và lên làm thủ tướng năm 1981, sau khi chính ông bị bắt và quyển sách phê bình chính sách của chế độ đương nhiệm là quyển "Cái Lưỡng Nan của người gốc Mã Lai, (The Malay Dilemma) năm 1969 bị cấm lưu hành. Ông đã lấy lại lòng tin của dân chúng Mã Lai đố với UMNO bằng chiến thắng rất lớn trong cuộc tổng tuyển cử 1982. Nếu độc đảng ông không cần phải làm thế.

 

2.3 Tân Gia Ba:

 

Ở Tân Gia-Ba cũng không khác mấy, sau khi bị Mã Lai không cho gia nhập liên bang vì sợ nạn cộng sản ảnh hưởng Trung Cộng lúc bấy giờ đang thịnh ở Tân Gia Ba, với số dân bé nhỏ và đa số là ngưòi Hoa nữa. Nhu cầu kết hợp cũng như sự cảm ơn và tín nhiệm ban đầu đã đưa Đảng cầm quyền Nhân Dân Hành Động (PAP) của Lý Quang Diệu, trước đó là Harry Lee, tốt nghiệp luật sư bên Anh, lên vị trí thượng phong. Những chính sách ích quốc lợi dân đã khiến dân chúng tin tưởng không thấy có nhu cầu bầu cho đảng khác với những chính sách khác, như đảng Công Nhân (Workers Party), đảng Tiến Bộ Tân Gia Ba (Singapore Progressive Party). Mặc dù người dân tín nhiệm đảng cầm quyền và bầu cho họ nhưng dưới thể chế của Tân Gia Ba, Tổng Thống cũng đơn cử thêm vào quốc hội thêm một hai nhân vật đảng khác để có tiếng nói đối lập. Chỉ ra những cái sai trái cái dở của chính quyền cho dân chúng biết.

 

2.4 Đài Loan:

 

Ở Đài Loan cũng thế không chỉ độc đảng tự tung tự tác, nó gồm những tổ chức chính trị, đảng phái nhỏ tác động lẫn nhau như "Đảng-của-những-người-bị-đứng-ngoải" (Outsiders Party). Dù vậy, uy tín của Tôn Dật Tiên vị quốc phụ của cả hai Trung Hoa quá lớn đối với quần chúng. Khiến các đảng phái, hội đoàn nhỏ khó tranh thủ lòng dân. Cũng như vậy Quốc Dân Đảng cũng phải cật lực áp dụng chính sách phát triển thât sụ để giữ lòng dân, dù một mặt vẫn cứ đưa ông "ngáo ộp" Trung Cộng ra làm kẻ thù để tranh thủ phiếu. Nhưng vì chiếm đa số nên bị trì trệ, khiến một số đảng viên bỏ ra để tham gia các đảng đối lập. "Đảng-của-những-người-bị-đứng-ngoải" sau đó tiến hoá thành đảng Dân Chủ Tiến Bộ (DPP), và thêm Tân Đảng (New Party) áp lực, thách thức chính sách của Quốc Dân Đảng, khiến Quốc Dân Đảng phải thay đổi nhiều chính sách và cải cách. Cuối cùng như chúng ta thấy vì không thay đổi kịp với ước vọng nhân dân Quốc Dân Đảng, dù với hình ảnh vĩ đại của Tôn Văn, sự "ủng hộ" gián tiếp của Trung Cộng, cũng vẫn phải nhường bước cho đảng mói lên cầm quyền vói ông Trần Thủy Biển. Nếu không đa đảng sao đuợc như vậy?!?

 

3- Trường họp đặc biệt: Trung Cộng, Ần Độ.

 

Nhưng nhiều lý thuyết gia vẫn có thể tấn công nền dân chủ đa đảng bằng so sánh sự thành công của Trung Cộng với sự trì trệ của xã hội đa đảng dân chủ Ần Độ. Nhìn qua rất chính xác và có vẻ vững lý luận và chứng cớ. Khi cả hai đều đông dân, Ần độ khoảng 1 tỷ, Trung cộng đông hơn 1 tỷ 3 (?). T a hãy thử xét xem ra sao.

 

3.1Ần Độ:

 

Tổng sản lượng quốc gia Trung Cộng Cao hơn Ần (Ước định của riêng tôi, tính theo chỉ số tăng trưởng kinh tế , lấy năm 1994 làm nền tảng)

TC =700 tỉ Mỹ Kim; Ần Độ=400 tỉ Mỹ Kim

 

Mức phát triển kỹ nghệ Trung Hoa tương đối cao hơn Ần Độ

TC=23% Ần 13%

 

Cả hai vẫn nặng về nông nghiệp:

TC=63% Ần=67%

 

Nhưng trước hết nhân dân Ần tự do hơn Trung hoa. Lớp người nghèo thất học, cùng khổ khó phân định nhưng có lẽ ngang nhau, đều ở đa số tầng cuối, và tầng dài nhất, tằng đáy của "tự tháp xã hội". Không ai lo đến. Cả hai bên đều đầy dẫy. Có khác là ở chỗ con số thống kê của Ần thì công khai, chính xác, trong khi của Trung Cộng khó biết. Trong khi đó giới thượng lưu của cả hai bên giàu có đều gần như nhau, với những đặc quyền đạc lợi người thường khó với tới, nếu không muốn nói là không thể. Một bên do chế độ đẳng cấp nối đuôi nhau, một đàng do đảng tịch, thân chính quyền mà có.

 

Ở Ần độ, phức tạp hơn do yếu tố đa chủng, đa giáo. Ở đây văn hóa cổ hủ lại nặng nề hệ thống giai cấp xã hội. Cho nên dù dân chủ đa đảng sự phát triển cũng không có ở quảng đại xã hội. Không phải là do đa đảng, nhưng người dân với dân trí và giai cấp còn nặng đã khó kết hợp để thực thi đúng quyền của mình dù họ có trong tay. Giới lãnh đạo lại không thực tâm ái quốc ái dân (tính đẳng cấp xã hội của Ần Giáo) . Có lẽ phần này còn cần chờ xem sự thay đổi của tầng lớp trẻ chuyên gia của Ần đầy tiềm lực. Họ có cơ hội thay dổi xã hội nhờ hệ thống đa đảng dân chủ. Vấn đề còn lại là họ có thay dổi được tư duy ấn giáo với kỳ thị đẳng cấp hay không! Có thể vẫn có chuyên gia cho rằng khi độc tài độc đảng sẽ xóa được tệ nạn này! Cứ nhìn các tập tục cổ hủ đã sống lại ở các nước cộng hoà Sô Viết, và hiện trạng trọng Nam khinh Nữ buôn con ở trong Trung Quốc từ đó đến nay, là trả lời được. Thay đổi tư duy nề nếp cần tự do và gíao dục thuyết phục, chứ không thể thành công bằng luật cường đạo.

 

Sự hơn kém khó phân định trong hiện tại. Có thể phải chờ ở thập niên tới mới xác định được tương đối.

 

3.2 Trung quốc.:

 

Độc đảng, nhưng không dân chủ. Tư tưởng không bị thách đố, nên sơ cứng, thiếu sáng kiến. Bỏ lỡ cơ hội phát triển một thời gian quá dài với quá nhiều mất mát xương máu nhân dân vì độc đảng phi dân chủ, cho đến khi Đặng Tiểu Bình làm "đảo chính cung đình" lên thay đổi đưòng lối với sự "ủng hộ" của phương Tây trong một hoán cảnh đặc biệt: Thị trường quá lớn, tương tranh vói Sô Viết cũ. Trung quốc phát triển nhanh. Nhưng cứ lấy Thiên An Môn, và Pháp Luân Công làm chứng cớ . Hễ có dân chủ thì không thể còn độc đảng. Không thể thuyết phục ngưòi dân văn hóa Trung Hoa hôm nay chấp nhận được độc đảng nếu có dân chủ thật sự... chắc chắn 100%.

 

III- Vấn đề trì trệ toàn diện ở Phi Châu

 

Bây giờ ta thử xét đến nơi thành trì, nguồn luận cứ của lý thuyết Dân Chủ Độc Đảng.

 

1. Phi Châu tổng quát:

 

Châu Phi có một hoàn cảnh khá đặc biệt và phức tạp. Thế lực thực dân kéo dài hơn ở châu Á. Mãi đến đầu thập niên 1970s Châu Phi mới được coi như gần độc lập hết. Trong khi đó sự hình thành hình thái quốc gia bị rất nhiều trở ngại do chính sách chia để trị đưa đến việc phân chia lãnh thổ theo hành chính của thế lực thực dân, không theo chủng tộc của họ. Hậu quả là những quốc gia giáp biên có những sắc dân của nhau. Sống ở quốc gia này nhưng lòng trung thành và tập quán, những căn tính thì lại hướng về nước bên kia. Thường vẫn mạnh hơn ý thức "công dân". Các thế lực chính trị lại "ưa chuộng" độc đảng, có thể vì nghi ngờ đường lối đa đảng của kẻ thống trị, nhưng không thể khiên cưỡng mà nói rằng không hiểu, dân chúng không thông hiểu thì đúng, nhưng giới lãnh đạo phần nhiều những "lãnh tụ" thường là "ăn học" và được sinh sống huấn luyện từ xứ thực dân. Cũng có thể họ khinh thường nhân dân họ trong ý thức chọn lựa dân chủ, vì họ,cũng như bao nhiêu nhà độc tài khác thường cho mình cái "thiên mệnh lãnh đạo": Ngoài Tôi không ai làm được!

 

Vì thế họ vẫn khó lòng sinh hoạt đa đảng, hơn nữa do sự đối nghịch nghi kỵ các sắc sân khác trong tinh thần bộ lạc nhiều hơn. Vấn đề châu Phi phức tạp hơn là Đa Đảng hay Độc Đảng khi sự nghèo khổ, kém cỏi lạc hậu và phân hóa do truyền thống bộ tộc bị ép phải hợp với nhau thành một quốc gia theo sự phân chia lãnh thổ của chế độ thực dân còn lại.

 

Nếu dùng độc đảng mà cưỡng chế họ hội tụ thì cũng tạm ổn, nhưng sẽ dễ vỡ, và khi có dân chủ lại càng vỡ hẳn như đã thấy ở các nơi trên thế giới.

 

Sự tan rã của Sô Viết, Nam Tư, hay các sắc tộc Nam Dương là do sự kết họp gượng ép bằng bạo lực, quyền lợi bất bình đẳng giữa các sắc dân. Trong khi liên Bang Mỹ, Gia Na Đại, hay Úc Đại Lợi khó có thể tưởng tượng sẽ tan rã.

 

Khả thi được ở phi châu là thể chế liên bộ tộc trong một quốc gia. Chính quyền trung ương đối ngoại và nắm quân sự v,v Vấn đề phong tục lề luật thuế nhỏ để cho các bang tộc điều hành như các chính quyền tiểu bang và địa phương của các quốc gia Tây Phương. Trong khi đó sinh hoạt đa đảng và dân chủ sẽ tiến hoá với sự phát triển giáo dục, hy vọng hai ba thập niên sẽ thay đổi được tinh thần bộ tộc khi tinh thần "công dân" phát triển. Nhưng trước hết đã giải quyết được tranh chấp chính trị để phát triển kinh tế, mời gọi đầu tư khác.

 

1.1 Nam Phi:

 

Nếu lập luận như một số người thì ANC của Nelson Mandala coi như "độc đảng" ít nhất là trong hết thập niên này. Dĩ nhiên còn đảng của cựu tổng thống De Clerk, đảng Cộng Sản v.v Sau khi thành công trong nỗ lực thuyết phục nhóm ZuLu, và đáng kể nhất là dồn ép không để cho những uất hận của ngưòi da đen tràn lên đối nghịch đối với người da trắng qua chính sách hòa hợp quốc gia. Vì "có thể " sẽ đưa đến căng thẳng với thế lực tư bản phương Tây như đã thấy ở Zimbabuwe. Nếu không có những cải tiến nâng cao đời sống dân chúng. Các đảng phái khác sẽ ra đời hoặc sẽ ly khai và gia nhập các đảng phái đối lập, để có những chính sách mới. Định luật tự nhiên của xã hội đa đảng tự do dân chủ. Như thế bắt buộc ANC phải thay đổi làm tốt hơn chứ không thể ì ra được như độc đảng.

 

IV Vấn đề của chúng ta Việt Nam:

 

Ở Việt Nam hôm nay thì lại càng rõ rệt. Dân trí đã lên cao, ít nhất với đa số người miền Nam sau 20 năm, dù không có tự do, dân chủ thật sự, nhưng riêng gíáo dục và thông tin cũng khá đầy đủ và khá cao. Ở miền Bắc, dù sau nửa thế kỷ sống với độc đảng chuên chế, nhưng với ý niệm truyền thống đa đảng từ trước ngày đánh đuổi thực dân, thiểu số trí thức và trung lưu tương đối có nhận thức cao và đúng đắn về dân chủ. Nước Việt Nam không bị tình trạng như châu Phi dù thực dân Pháp đã có dã tâm muốn chia thành ba nước. Đảng Cộng Sản đương quyền lại phạm quá nhiều sai lầm, những sai lầm quá nghiêm trọng không thể cứu gỡ được. Cán bộ ngu dốt kém cỏi, chia bè, chia phái Bắc Nam. "Thanh cậy thế, Nghệ cậy thần" nhũng loạn. Độc đảng độc quyền, trong tình trạng đàn áp dân chủ sự tồn tại của đảng CSVN còn khó vững huống hồ mở dân chủ , tự do báo chí, tự do tư tưởng, tự do hội họp, ai còn chịu đựng Đảng? Nhân dân Việt Nam có văn hiến, văn hóa, học thức làm sao chấp nhận kiểu "Dân Chủ" mà không được lập đảng riêng với những cương lĩnh riêng bình đẳng để đóng góp xây dựng đất nước đời sống quốc gia bằng cách tranh thủ thuyết phục quần chúng? Không tưởng!

 

Ngay như ở Mỹ, với sự ổn định phồn vinh mà đã có xuất hiện những đảng nhỏ như của nhà tỉ phú Perot, dù chưa đủ lôi cuốn người dân. Nhưng vì các chính đảng lớn không còn đưọc tín nhiệm như trước. Ở Úc hai đảng lớn cũng bị phân chia khi người dân không còn tín tưởng hoàn toàn vào họ nữa, các đảng nhỏ thành hình, như Nông Gia, Dân Chủ , đảng Xanh, và gần đây đảng "Một Quốc Gia".

 

V- Những ẩn ý chính trị trong sự hình thành của lý thuyết Dân Chủ Độc Đảng.

 

Cái gì nó cũng phải có nguyên cớ , động lực của nó. Vật hữu bản mạt sự hữu thủy chung. Theo tôi, những động lực đưa đến phát sinh lý thuyết Dân Chủ Độc Đảng gồm hai khuynh hướng.

 

1- Khuynh hưóng nhìn từ bên ngoài, từ phương Tây:

 

1.1-Bất lực trước những phân hoá, hậu quả của chính sách thực dân chia để trị, và nhũng loạn bản xứ trước khi rút khỏi thuộc địa của Thực Dân, đặc biệt là Phi châu.

 

Các nhà lý thuyết Ấu Tây, hơn ai hết, họ hiểu hậu quả của quá trình thực dân của họ. Trước khi triệt thoái, họ nhũng loạn tất cả. Sẵn những "căn tính kỳ thị", họ không tin vào tiến trình dân chủ ở các nước thuộc địa. Ngay khi Pháp trở lại Đông Dương, và Mỹ cưỡng chế Việt Nam cũng đã thể hiện sự coi thường mang nặng tính "kỳ thị" này. Cũng như sự cố tình không "giao lưu" đường lối dân chủ của trong thời thực dân, Người Ấu Tây, họ cố tình quên rằng dân chủ tự nó tiến hóa, đào thải, và kiện toàn nhưng phải dân chủ từ đầu. Kinh nghiệm trên quốc gia họ đã rõ.

1.2 Nôn nóng muốn "ổn định" để dễ đầu tư kiếm lợi nhuận cao. Ít tốn kém. Sau khi đã phí tổn nhân mạng và tiền bạc để giải quyết theo ý của thế lực Tây phương, hoặc ảnh hưởng Tây Phương, đặc biệt là trong thời kỳ "chiến tranh lạnh". Tình trạng kéo dài khiến các thế lực tư bản nôn nóng muốn sớm ổn định để mở thêm thị trường và sử dụng hữu hiệu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú của Phi Châu, mà nếu dân chủ thật sự, họ khó có thể tùy tiện như ý. Các nước dầu hỏa Trung Đông là điển hình.

 

1.3 Khác với Đức và Nhật hai cường quốc , cựu Đế Quốc không phải nhuợc tiểu thuộc địa. Khởi đầu, phía cựu thực dân chỉ muốn ủng hộ thiết lập những lực lượng thân Tây Phương để dễ gián tiếp tái thực dân, bóc lột nguồn lợi tài nguyên kinh tế và tiện dụng chính trị trong thời chiến tranh lạnh (1945-1990)

 

2-Những động lực nhìn từ bên trong:

 

2.1 Từ Chính giới không có khả năng thuyếr phục quần chúng: Những lý thuyết gia của các chế độ độc tài, sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, đã phải đương đầu với sự giao lưu rộng rãi với các nền dân chủ. Họ có thể muốn thay đổi và vẫn muốn giữ quyền thượng phong trong dân chủ. Hơn nữa, lại muốn chính đáng hóa sự cai trị của mình cả trong lẫn ngoài. Nhưng lại không tự tin có khả năng thuyết phục quần chúng. Giống như Ngô Đình Diệm trưng cầu dân ý, nhưng vẫn lo và "gian lận", sau đó độc tài luôn .

 

2.2 Chính giới, cầm quyền bị áp lực của quần chúng phải cho tự do, nhưng lại lo sợ mất quyền, mất đặc lợi, ưu tiên cho bè phái. Kể cả khi họ không muốn dân chủ, như vẫn thường rêu rao và hứa hẹn. Do ảnh hưởng của giao lưu và dân trí phát triển, áp lực càng ngày càng cao ngay cả trong nội bộ. Và họ phải chính đáng hoá bằng cách lập lờ nhượng bộ, nhưng vẫn độc quyền chính trị với những tự do dân chủ biểu kiến.

 

2.3 Chính giới, cầm quyền, vẫn còn mặc cảm tự ti nhân dân không tín nhiệm, mặc cảm tự tôn, chỉ có ta mới làm được việc. Có thể giới cầm quyền và lý thuyết gia của họ đã nhìn ra sự đắc dụng của Dân Chủ, nhưng vẫn còn nghĩ dân trí thấp và ngoài họ ra không ai có thể tiến hành được Hơn nữa chính họ cũng thấy "quan trí" của họ không ra gì và muốn lôi kéo thêm các thành phần có khả năng đóng góp, nhưng mặc cảm tự ti, sợ bị mất quyền. Chính giới, cầm quyền vẫn khinh thị quần chúng và sợ các thế lực tài năng khác, ngoài đảng tranh quyền.

 

2.4 Chính giới, cầm quyền, lấy cớ ổn định chính trị để củng cố tập quyền, độc tài . Một khả năng nữa là để mị dân trong những trò dân chủ biểu kiến trong khi đang biết mình bị lung lay, sụp đổ nếu không thay đổi dãn nở. Họ sẽ dương cao dân chủ, nhưng viện dẫn để phát triển kinh tế cần ổn định chính trị, Nhưng thật chất là để có thêm thời gian cũng cố nội bộ và tập quyền thêm cho nền độc tài, độc đảng.

 

2.5 Chính khách đối lập: mệt mỏi, lười biếng, và bất lực, muốn thỏa hiệp với giới cầm quyền để tham chính. Động lực cuối cùng do những "chính khách" bên ngoài, đối kháng nhưng mệt mỏi sau nhiều thất bại. Trở nên lười biếng và bất lực trong sáng kiến đấu tranh đã đưa ra để thỏa hiệp với giới cầm quyền với hy vọng nền dân chủ biểu kiến sẽ có mình. Và như vậy họ cũng khinh thường trí thông minh của quần chúng!

 

VI -Kết Luận

 

Xét về mặt lý thuyết không thôi, cũng sẽ thấy Dân Chủ Độc Đảng giống như quân chủ minh quân vậy. Dựa vào Đức Trị vào lòng tin mù quáng. Phải dựa vào minh quân thánh chúa, lãnh tụ anh minh mà phát triển. Nếu không có thánh chúa lãnh tụ anh minh... thì chờ!!!. Độc đảng, đảng sẽ không cần ý dân. Chỉ cần thỏa thuận, quyền lợi giữa các đảng viên. Một thiểu số của xã hội, là xong. Một loại dân chủ tập trung! Đảng sẽ sơ cứng không có nhu cầu sáng kiến, sáng tạo, vì không có sự cạnh tranh thách đố! Một yếu tố thượng phong, ưu việt của dân chủ đa đảng.Việt Nam là điển hình của Dân Chủ (tập trung) Độc Đảng lý tưởng nhất.

 

Tiến trình, hay sự đa đảng là căn bản , tất yếu, tự nhiên của tự do dân chủ thực sự. Khi có Dân Chủ thật sự thì tự nhiên có ngay Đa Đảng, không có thời gian chuyển tiếp. Nếu có thời gian chuyển tiếp mà vắng đa đảng tức là không dân chủ, và đàn áp hiện hữu. Vì nhiều đảng sẽ được thành lập khi Đảng đương quyền đã vi phạm nhiều sai lầm về nhiều mặt. Cái sai lầm lớn nhất và đầu tiên là đã Độc Đảng.

 

Ngay cả ý nghĩa ngôn từ và thực tại cũng trái ngược không thể hiện hữu khi nói Dân Chủ Độc Đảng. Cái lối dụng từ nghịch hợp (Oxymoron) này không phải mới. Ngay cái "Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa", hay " Cơ Cấu Thị Trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa " ai cũng đã thấy rõ. Bản chất của quyền lực là lạm. Khi không muốn chia sẻ quyền lãnh đạo thì bắt buộc phải phi dân chủ, dù ở bất cứ hình thức nào. Pháp trị sẽ vắng mặt. Tham nhũng sẽ thành hình bất trị. Nhân quyền sẽ bị chà đạp. Cái tự nhiên của một xã hội, nhất là một xã hội mà nhân dân đã có tri thức văn hiến, văn hoá như Việt Nam lại càng không thể độc đảng. Độc đảng tự nó đã không dân chủ. Dân Chủ tự nó đã đa đảng. Trừ khi áp dụng bằng bạo lực thì mới có độc đảng. Độc đảng không thể tồn tại chỉ trong môt lần bầu cử dân chủ. Đã dân chủ bầu cử mà độc đảng thì thành độc diễn như Nguyễn Văn Thiệu! Một tên hề dân chủ, hay một tên độc tài! Nhân dân chạy đường nào! Chỉ còn bạo lực là nền móng. Chuyển tiếp chỗ nào? Lúc nào? Thời gian bao lâu? Cái gỉ áp đặt bằng bạo lực thì tự nó đã chứa mầm loạn. Sẽ phải đổ.

 

Giống như một quốc gia cần phải có ba yếu tố, nhân dân, lãnh thổ, và chính quyền. Bất cứ nơi nào, ở đâu, mọi người dân trên thế gìói đều ước vọng, no ấm, tự do, và công bằng. Ba nhu cầu căn bản của quyền làm người gắn bó không thể rời được. Mỗi nhu cầu sẽ không hình thành, đạt được, nếu thiếu một trong ba.

 

 

Lùi Sĩ Nguyên Khả Phạm Thanh Chương

 

 


Bài số 2

Một bổ túc nhỏ để làm sáng tỏ bài viết của tôi.

(nhân đọc gợi ý của BBT Tin Sáng.)

 

Thật là khó nói, nếu không nói là gượng ép, khiên cưỡng khi nói rằng "Độc Đảng, khác với Một Đảng" . Không thể có dân chủ "một đảng", và cũng chưa bao giờ có "dân chủ một đảng cả" . Kể cả các trường hợp tôi đã kể ra.

 

1-      Các trường hợp tôi kể ra trừ Nhật, Đức ra, là đa đảng nhưng "phi dân chủ". Vi đa đảng nhưng phi dân chủ, độc tài nên đưa đến một đảng nắm quyền hầu như miên viễn cho đến khi có "phản ứng mạnh" của B[1]O LỰC quần chúng và các đảng phái nhỏ khác. (Đại Hàn, Thái Lan).

 

2-      Trong các trường hợp khác, là do có DẤN CHỦ và ĐA ĐẢNG, nhưng nhân dân tín nhiệm một đảng vì đảng này chưa có vi phạm sai lầm lớn, vẫn lắng nghe dân, thay đổi chính sách cho ích quốc lợi dân, như Mã Lai, Tân Gia Ba. cả Đức hay Nhật cũng vậy.

3-    Vì thế nếu nói "Dân chủ Một Đảng" theo kiểu này, KHÔNG phải theo ý của ông Ts.Thành, Thì hầu như quốc gia nào cũng là dân chủ một đảng cả, như ỏ Nhật với đảng LDP, Tây Đức đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo của ông Helmut Kohl "một đảng" trong hơn 15 năm, Ở Úc đảng Tự Do của Menzies "một đảng" trong gần 20 năm. Pháp với đảng Gaulist sau thế chiến . Quensland, đảng Quốc Gia 20 năm. Mỹ có thời kỳ một đảng nắm trên 3 nhiệm kỳ (12 năm) v.v như F.D.Rossevelt. Hay Cộng Hòa của R.Reagan cộng G.Bush. Các "Một Đảng" này là do nhân dân tín nhiệm bầu cử dân chủ trong đa đảng mà có.

 

Cái Ông Thành nói đến là "Dân Chủ mà KHÔNG cần ĐA ĐẢNG" trong đó Một Đảng nắm quyền không bằng phương cách bầu cử dân chủ (Xin xem lại các câu trả lời trong bài phỏng vấn, và bài viết), khác với ĐA ĐẢNG nhưng một ĐẢNG được tín nhiệm nắm quyền lâu dài do bầu cử dân chủ (Nhật, Đúc, Tân Gia Ba, Mã Lai v.v). Hoặc một đảng nắm quyền bằng phương pháp PHI DẤN CHỦ, Độc tài dù có đa đảng.

 

Như vậy then chốt của vấn đề vẫn là DẤN CHỦ, ĐA ĐẢNG. DẤN CHỦ quyết định Một Đảng nắm quyền lâu dài hay ngắn hạn, hay phải có phối hợp đa đảng như ở Nhật, Mã Lai, Úc (chính phủ liên minh) để nắm quyền mà thôi. Chứ chưa bao giờ có cái DẤN CHỦ một Đảng theo cung cách diễn tả của ông Thành, cũng như trong cách trả lời phỏng vấn của ông ấy. Là Một Đảng nắm quyền theo nguyên tắc phi dân chủ, bạo lực, mà không có đảng khác tranh quyền, tức là Độc Đảng! Mà nếu ngay cả khi chủ ý của lý thuyết này đúng theo như lời giải thích chữ nghĩa của BBT là như thế đi chăng nữa. Vậy thì cái lý thuyết này nó cũ rích vì quốc gia nào cũng đã trải qua và đang thực hiện cả: Như ở Nhật hiện tại, Anh, Úc Canada v.v. Nó rõ như ban ngày rồi còn cần lý thuyết gì nữa !!!! Như thế là nói chuyện huề vốn, trẻ con hay sao?

 

Đề nghị BBT Tin Sáng nên xem xét lại cách dùng từ của mình và của ông Ts Thành. Chữ nghĩa có lắt léo nhưng không thể khiên cưỡng coi thường độc gỉa được.

 

Trân Trọng Kính Chào.

Lùi Sĩ Nguyên Khả Phạm Thanh Chương.


Bài 3

Chính trị Nghịch hợp Trong cơn mê sảng

Phiếm luận

 

Chuyện khởi đầu từ bài phỏng vấn một Ông tiến sĩ Phi Châu Sono(?) nào đó . Rồi ông tiến sĩ Việt kiều Thành với lời "phân giải" sau lá thư của một người "nào đó" Việt 100%, trong nuớc gửi ra. Chung quanh cái chủ đề nghe rất nghịch hợp: Dân Chủ mà không Cần Đa Đảng!

 

Tôi thấy câu chuyện bắt nối rất nhịp nhàng vui quá, như một bản hòa âm của Mozart. Lại có tính khôi hài đen rất cao. (ít ra cũng được khởi dầu bằng hai tiến sĩ và hai cơ quan ngôn luận chứ nhỏ sao!!! Chưa kể viện dẫn các lý thuyết gia chính trị phương Tây nữa!!! Không phải Thomas Paine hay F.Benjamin hoặc Moorgenthau đâu!!! Lừng lẫy hơn nữa!!!). Trong cơn mê sảng tôi bắt nhịp viết tam điệp đoản khúc (sonat) với đề tài "Dân chủ đa nguyên, hay độc đảng độc tài". Tôi viết rất nghiêm chỉnh, theo đúng phương pháp trường dạy tôi khi làm luận án chính trị quan hệ quốc tế. Tôi nói trong cơn mê sảng là vì Tôi, bình thường, tỉnh táo chỉ viết phiếm, viết tản mạn. Nên khi viết nghiêm chỉnh đích thị là trong cơn mê sảng. Hay nói khác đi là trong cơn mê sảng đích thị là phải nghiêm chỉnh.

 

Thế mà chuyện vui chưa hết. Đã bảo khôi hài den nó âm ỉ chảy ngầm, chảy ngấm, rồi chảy ngâm cơ, lâu lắm!!!. Mấy hôm sau, đọc lại mục Điểm Nóng của Tia Sáng mong có bà con dư giờ dư trí não đấu phét chơi chữ nghịch hợp cho vui. Thấy vắng hoe! Dù đã biết đồng bào mình toàn cao nhân ngưòi ta không nói thì thôi, nói nó phải ra chuyện chứ mấy ai phí giờ nói nhảm những loại nghị luận văn chương huề vốn bao giờ. Các cụ xưa thường nói: "Mẹ nói như thế vạch đầu gối nói sướng hơn!". Vậy cho nên ở trong nước Đảng nói gì, báo Nhân Dân Đăng gì có ai màng tới, ngoài mấy ông đảng viên cò mồi gỉa tên nông dân ở Rạch Giá, Vĩnh phúc, Điện Biên v.v viết về phê phán ý kiến cho có "tự do báo chí, ngôn lưận" một tí chứ. Giống như báo ANTG của Nguyễn Như Phong và mấy lá thư của "đồng bào các nơi" ý kiến về ông Hà Sĩ Phu ấy mà!!!

 

Tôi đang viết bài phiếm về Văn Bản Hiến Pháp, Công Pháp Quốc Tế và Dự Thảo Đại Hội Đảng IX, để gửi đóng góp với các báo chi khắp nơi cho quên đời nhàm chán, bỗng lại được thấy lời "gợi ý" của BBT Tia Sáng! Vui quá! Đành bỏ dở đó bắt ngay những tia sáng tư tưởng chợt đến không để nó chợt đi lại phí của giời!!!

 

Lần này tính khôi hài đen cao hơn, đậm rất đậm nữa cơ. Có nghĩa là BBT rất trịnh trọng nhắc nhở cái cao thâm của chữ nghĩa lý thuyết chính trị nó khó theo dõi lắm. Hay nói cho đúng là "thuật ngữ chuyên môn" bao giờ cũng khác với nghĩa thường dùng trong dân gian. Cho nên BBT Tia Sáng "gián tiếp thay mặt" ông T.s Thành nhắc nhở độc giả phải hiểu rằng ý của ông Thành là "Một Đảng". Mà "Một Đảng" khác với "Độc Đảng"cơ đấy! Phải coi chừng! BBT Tia Sáng còn dẫn chứng rằng các quốc gia tôi kê ra làm thí dụ trong lúc "mê sảng nói nghiêm chỉnh" là một bằng chứng của "Một Đảng" chứ không như thiên hạ đã nhầm lẫn là Độc Đảng. Rất trân trọng cảm ơn BBT đã giúp bài của tôi thêm.... tối nghĩa!

 

Tôi liền "vội vã chậm rãi" viết ngắn một vài lời " khách sáo chân tình " để làm cho sáng ý cái bài tôi đã nghiêm chỉnh luận bàn. Rồi nhấn nút máy điện tóan gửi đi ngay. Tất cả xảy ra lúc trước khi trời sáng cả!

 

Bây giờ sáng hẳn ra, mới giật mình thấy những gì mình nói nghiêm chỉnh trong lúc mê sảng không hay! Không hội đủ nghịch hợp! Không đúng! Muốn viết thư vừa xin lỗi BBT Tia Sáng, vừa cảm ơn anh chị em BBT đã tận tình chú thích bài của mình. Nhưng cái tính tự ái vặt của thằng "chuẩn tiến sĩ", (tức là "lùi sĩ" vì "tiến" chưa được!) nó to lắm. Nó to hơn cả cái tự ái của bỉnh bút, chủ bút, chũ tịch, tổng bí thư lận. Nó to như cái "bánh bẻng" mà ông Xuân Vũ Bùi Quang Triết, hay ví cái hội nhà văn kháng chiến Nam Bộ của Trần Bạch Đằng hay Trần Văn Giàu gì đấy, ấy mà.

 

Nhưng vì sáng ra nhìn thẳng vào mặt trời, những tia sáng bắn thẳng vào óc mình tới tấp, mới thấy quả thật Dân Chủ không cần Đa Đảng! Rõ ràng không cần Đa Đảng. Dân Chủ chỉ cần Một Đảng là đủ. Nhưng Một Đảng cần Nhiều Đảng mới được!!! Lý thuyết này các bạn hơi khó theo nên yêu cầu kiên nhẫn mới hiểu được. Ai đã nghe các cán bộ Công An, Đảng viên đảng CSVN hay Trung Quốc nói chuyện tất sẽ có đủ "kiên nhẫn và thông minh" nắm bắt được thuyết của tôi.

 

1-      Tại sao Một Đảng mà Nhiều Đảng??? Thứ nhất bạn đọc phải hiểu Nhiều Đảng không giống với Đa Đảng, cũng như Một Đảng không giống Độc Đảng. Đa Đảng là tình trạng nhiều Đảng, lắm Chủ Tịch đảng, nhiều bí thư quá, giống như thời 12 xứ quân ấy. Trong khi Nhiều Đảng, có nghĩa là Một Đảng có nhiều thành phần, phe phái , đảng phái khác nhau là đảng viên. Như thế nó rất đa nguyên, nhưng không cần đa đảng. Như UMNOXICOPARTY của Mã Lai, hay La POPMECHIAPARTIE của Al gê ri a lan ca vậy[1].

 

2-      Thứ hai xã hội sẽ công bằng mà không cần Dân Chủ, chỉ cần tính Dân Chủ Ý, Dân Chủ Ý không phải như Dân Chủ Ấu Tây hiện thời. Dân chủ Ấu Tây, rườm rà phí phạm tiền bạc, thời giờ nhân dân và đất nước trong các cuộc bầu cử rộng rãi. Chỉ phù hợp với Mỹ, hay Ấu Châu. Nền Dân Chủ Ý là nhân dân làm chủ qua quyền viết kiến nghị đòi hỏi nhà nước Một Đảng thi hành theo ý dân. Tư tưởng này không hẳn mới của riêng tôi. Ngoài Karl Marx. Lenin ra còn có các lý thuyết gia cự phách đã có bàn qua nhu Sophia Karsper, Shroder Hamberger, Nicolò Silynini, La lang d' Idiot, và Francois de Bocphet nữa.[2]

 

3-      Như thế Xã hội sẽ có Tự Do mà không cần nền Tam Lập Pháp Trị. Các bạn cũng phải hiểu Tự Do không phải là muốn làm gì thì làm. Tự Do là Tự Do trong khuôn khổ nghị định của Một Đảng. Thí dụ Nghị Định bảo đi, thì nhân dân có quyền Tự Do đi nhanh hay đi chậm, đi từ từ hay kể cả chạy vắt giò, vắt chân lên cổ, tùy ý thích chọn lựa, nhưng không được đứng tại chỗ. Nếu đứng tại chỗ là lạm dụng Dân Chủ, vi phạm pháp lệnh.

 

4-      Nhu vậy xã hội sẽ có ổn định, phát triển năng xuất. Công Bằng, Công lý sẽ được bảo đảm bởi Luật Trị Tam Viện, mà không cần nền Pháp Trị Tam Phân. Các bạn phải phân biệt giữa Luật Trị Tam Viện và nền Pháp Trị Tam Phân khác nhau. Pháp Trị Tam Phân của Ấu Tây hiện đại là ba viện Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp độc lập kiểm soát, chi phối lẫn nhau. Nó có lợi điểm và yếu điểm. Cường điểm và nhược điểm. Nhưng chung quy rất phí phạm thời gian và công sức tiền bạc trong sự tranh cãi, cũng như theo đúng quy trình pháp lý. Chỉ thực hiện được ở các quốc gia giàu có phát triển như Mỹ, Anh Pháp v.v. Luật trị Tam Viện là Viện Lập Pháp của Quốc Hội do Một Đảng chỉ định, Viện Hành Pháp đứng đầu là Thủ Tướng do Một Đảng chỉ định, và cuối cùng là Viện Tư Pháp có Toà Án Nhân Dân và Viện Kiểm Sát Nhân Dân do Một Đảng chỉ định. Như vậy tiết kiệm được thời gian, tốn phí tranh luận về dự thảo luật pháp cũng như thời gian xét xử, hay thi hành luật pháp. Tránh được các việc lợi dụng Pháp Trị của bọn tư bản giàu có như đã thấy rất nhiều ở Dân Chủ phuơng Tây.

 

Nói tóm lại một xã hội nhỏ, chậm tiến thì có thể có công bằng, văn minh tiến bộ, tư do, ổn định mà không cần Đa Đảng, Dân Chủ, và Pháp Trị nữa. Nó sẽ tiết kiệm đủ mọi mặt khi không còn có tranh luận, bầu cử, biểu tình đình công bãi thị v.v Tài nguyên sẽ tập trung vào phục vụ đời sống thiết thực cho nhân dân. Lại rất phù hợp trong việc bảo vệ môi sinh cho quả đất này nữa. Nhân Dân sẽ an cư lạc nghiệp, không phải bận tâm trí lo nghĩ về chính trị, chỉ lo kiếm tiền và ăn chơi thôi. Ngủ sẽ thẳng giấc. Đất nước từ đấy sẽ vững bền.

 

 

Kết Luận

 

Các bạn có hiểu tôi muốn nói gì không? Thú thật chính tôi cũng không hiểu mình đã viết gì, nói gì nữa!!! Nếu thắc mắc xin điện thoại cho bà Phan Thúy Thanh để xếp đặt một cuộc hẹn với bộ chính trị trung ương Đảng CSVN sẽ được đả thông đến nơi, đến chốn. Chứ không lại bảo tôi Cưỡng lý đoạt từ.

 

 

 

Lùi sĩ Nguyên Khả Phạm Thanh Chương.

 

Viết sau khi tỉnh ngủ.

Mùng 7 tháng 3 năm Tân Tỵ(31-3-2001)

 

 

 



[1] Các Một Đảng sẽ được thành lập trong tương lai.

[2] Chịu không biết những ông bà này hồn ở đâu bây giờ, hay đã có sinh ra hay chưa nữa?!?

* trở về
Make your own free website on Tripod.com