Dặm Trường Ðất Nước

Ðêm nay, ngồi vào máy đọc bản tin quê nhà về một sự ô nhục đã rồi- Lãnh thổ đất nước, thắng cảnh Bản Giốc đã rời quê hương. Ðảng CSVN, chúng nó mở tiệc an mừng trọng thể! Tôi chỉ biết thở dài rồi lặng lẽ bước ra sân sau. Tài bồi một thước đất Tổ Quốc là cả trăm năm máu xương. Mất đi một thưóc đất, biết bao giờ lấy lại! Ðã mất một thưóc rồi sẽ đến một cây số, rồi một trăm, rồi một ngàn... Vậy thì tranh cãi một thước hay một cây số, hay trăm cây số để làm gì!!! Mất là mất! Nhục là nhục!

Ðêm nay Giăng sáng quá! Vằng vặc giữa trời không, lặng lẽ một mình. Tôi không phải thi sĩ, cũng không phải nhà văn để có đủ chữ nghĩa hứng đọng và dàn trải những cảm xúc miên man của mình lúc này. Tôi chỉ biết soi lòng mình trên cái vòng lung linh giằng giặc ấy. Mà tự hỏi: mình làm gì? Ðất nước đi về đâu?

Tôi đã thức nhiều đêm trắng, những đêm dài thật lắng đọng để nghĩ về quê hương đang trăn trở nhọc nhằn với những mất mát thật phi lý, đắng cay. Những phi lý, cùng cực đầy nước mắt tủi nhục, đầy máu xương chồng chất đã được nhào nặn thành những mỹ từ đẹp nhất mà văn chương chữ nghĩa của bọn bồi bút đã tô son. Tôi không sống trong cảnh nô lệ tù đày của thời Pháp thuộc để có thể biết được hết những khát vọng tự do của dân tộc mình. Tôi cũng không thể biết được tường tận được lòng tự trọng dân tộc của thế hệ mẹ cha, anh chị đã dâng cao như thế nào khi họ từ bỏ tất cả, hy sinh tất cả, dẫu xác thân đã rạc rài sau gần trăm năm dưới roi đòn của người Tây, để vùng lên dành độc lập. Nhưng tôi cảm được ước vọng làm người của họ, làm con người tự do và bình đẳng. Thế mới đắng cay! Vì đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, tất cả vấn nạn vẫn còn đấy. Tồi tệ hơn đấy! Vẫn không có Tự Do và Bình Ðẳng.

Một lần đến Lào Cai, tôi đã đi thăm ngôi làng biên giới còn dấu tích của cuộc chiến tranh Việt Trung năm 1979. Bốc một nắm đất lên tay, mùi máu xương đồng bào vẫn còn phảng phất. Hồn thiêng sông núi là đây! Tôi bỗng nhớ Mẹ tôi- Với tôi, Mẹ gắn liền với dân tộc đất nước-Nhớ Mẹ là nhớ Quê Hương- Nhớ Quê Hương là nhớ Mẹ.

Mẹ Tôi

Ngày xưa Ông Lý Ðông A, lưu lạc xứ ngưòi làm cách mạng chống thực dân, một ngày cô độc giữa chốn Việt Kiều, Ông vỗ án thét bài ca chính khí.

"Một ngày lạnh, nước người không ti kỷ,
Ta vỗ án thét thành ca chính khí...."

-Tôi hèn kém hơn, lưu lạc xứ người tìm sự ấm êm. Hôm nay, buồn chuyện đất nước, không tri kỷ...bỗng nhớ Mẹ khôn cùng! Tôi vẫn có những cái dở hơi như thế! Khi cô độc cùng quẫn thì nhớ Mẹ! Nhớ thôi chưa đủ cái dở hơi , lại đem kể ra cho thiên hạ cùng nghe lại càng hơi dở!

-Ông Lưu Trọng Lư vẫn may mắn hơn tôi, dẫu mất Mẹ sớm, nhưng đưọc gần cận Mẹ và đưa tang Mẹ lúc Người nắm mắt.

Tôi nhớ Me Tôi thuở thiếu thời
Lúc Người còn sống Tôi lên mười..

Còn Tôi, Tôi nhớ Mẹ tôi lúc lưu lạc. Khi Người còn sống, tôi là thằng tha phương vặn dặm. Lúc Người mất, Tôi đang vùi đầu làm thợ trong công xưởng xứ người...Tối về đến nhà mới nhận hung tin, chỉ biết ngửa mặt nhìn trần nhà một mầu trắng toát.

Mẹ tôi, Người thuộc lớp ngưòi dân quê ít học. Cái biết của Người chỉ là bốn phép tính để đi chợ và buôn bán nhỏ quanh năm tận tụy vì chồng con. "Trí thức văn học" của Người thì "chỉ" đầy những ca dao tục ngữ! Lạ một điều là Người thuộc thơ Nguyễn Bính, Kiều, Chinh Phụ một cách lạ lùng! Người ru cháu rặt những thứ ấy! Mắng mỏ dạy dỗ chúng Tôi, cũng rặt những thứ "bình dân, nôm na" ấy..

Cuộc sống của Người, sáng tối đi về một giỏ trầu cau, cái khăn mỏ quạ nhung đen. Lể hội, quan, hôn, tang tế, mới quấn thêm vành tóc được cẩn trọng vuốt dầu chuối đâu đấy. Tài ba của Người là gánh xôi, nồi bún, tảo tần một đời vì bố con chúng tôi. Cụ Ông tôi cũng thuộc lớp người dở hơi, Kháng Chiến chống Pháp, nhưng không ưa Việt Cộng, đành vào Nam. Nhưng rồi cũng không ngửi nổi Mỹ Diệm. Thời Thiệu, Cụ viết "kháng thư" gửi Thiệu, rồi dự định ra ứng cử. Không biết vì lý do gì.. đang chuẩn bị tiến hành vận động thì Cụ bỏ. Cụ quay ra viết sách khoa học dịch lý Ðông Tây "giao duyên", và chẳng bao giờ xuất bản! Thế là việc nhà, một mình Mẹ tôi gánh hết trên vai.

Mẹ tôi, Người đã gánh vác trên vai gánh nặng phi lý của xã hội, nơi chồng con, như nhân dân Việt Nam phải gánh nặng cưu mang sự phi nhân nghịch lý của cuộc chiến vong bản tương tàn.

Mẹ Tôi, dẫu là người bình dân ít chữ. Nhưng nếu bảo là Mẹ tôi, vì Người bình dân, quê mùa chịu đựng và không biết gì hết ngoài lo toan miếng ăn cái mặc cho chồng con thôi, thì không đúng! Trí tuệ của Mẹ là những thực trạng bản thân bằng mồ hôi nưóc mắt và máu xương. Mẹ Tôi, ngày xưa ,Người vẫn thường phàn nàn về những lần hội họp bàn trà của Ông Cụ tôi cùng các bạn già:

-Chẳng hiểu Bố chúng mày và các Bác bàn gì mà lắm thế, viết lách gì mà nhiều thế. Cứ xắn áo, vén quần ra chợ mà hô hào thì thiếu gì người cùng đến lôi cổ chúng nó xuống...như cái thời người ta đánh Tây ấy.

Mẹ tôi đấy, Ngưòi không chỉ thấy miếng cơm manh áo-Người vẫn nhìn, vẫn ưu lo về đời sống chung quanh với những kinh nghiệm của người, không lý thuyết ngôn từ lạ lẫm- Tất cả là những gì thực tế chung quanh- Những cơ cực của thân phận mình, đồng bào mình.

Ấy thế mà Người đã can đảm đi hết cuộc đoạn trường không một lời oán trách. Cũng như nhân dân Việt Nam hai miền Nam Bắc đã gồng gánh những đau khổ xương máu, mất mát thiệt thòi, nhưng không bao giờ trở thành căm thù bạo ngược. Nếu ví von những cơ cực, thiệt thòi của Mẹ tôi, là một hình ảnh cô đọng của cả Dân Tộc này thì cũng không quá.

Ðấy, Mẹ là hình ảnh kết tinh cô đọng, là tiểu biểu của những kiên cường, oan khiên chịu đựng nỗi đau đớn nhọc nhằn của dân tộc Việt-Nam , đất nước Việt Nam. Mẹ sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh thực dân nô lệ- Mẹ dầm mình trong chiến tranh kháng chiến- Cả nhà Ông Cụ Ngoại ủng hộ "cụ Hồ" từ tiền của đến sinh mạng- để rồi cay đắng với nền "Ðộc Lập" phi nhân quái gở do Hồ chọn lựa-Mẹ Tôi, cũng như bao nhiêu ngưòi khác, có cần biết cái Chủ Nghĩa của Hồ đem về là gì. Mẹ chỉ chống Tây như bao đời chống ngoại xâm để có Ðộc Lập thế thôi- Cuối cùng phải bồng bế con thơ bôn ba-bỏ xứ- Ðể lại Thầy Mẹ đằng sau bị đấu tố mắng nhiếc, bỏi chính những đứa con, đứa cháu được Cụ nuôi nấng cất dấu, che chở trong chiến tranh. Cụ chết cô quạnh trong căn chòi cách ly ngoài đồng.

Mẹ ra đi ôm ấp những bình yên hy vọng cho con cái-Mẹ ưóc mơ xa rời những loại lang sói nói tiếng người để con cái hưởng lại nhân tình, nhân phẩm. Nhưng oan nghiệt kéo dài- để rồi thấp thỏm sống trong chiến chinh tương tàn man rợ của những não trạng tay sai, quyền bính-Ngày ngày bương trải kiếm cơm- Ðêm đêm, lời cầu nguyện an bình của Mẹ cho con cái, cho thân nhân cả đôi bên chiến tuyến, chìm trong tiếng pháo kích, tiếng đạn bom từ mười phương vọng về. Ðời Mẹ là mồ hôi, là nước mắt, là máu xưong. Năm 1975, "Hoà Bình-Thống Nhất" đến, Mẹ không còn niềm tin, hồ hởi để đón chào ước vọng ngàn đời ấy-Mẹ không còn nước mắt để khóc mừng vui đoàn viên- Mẹ cảm nhận được sự đồi bại bỉ ổi, đang chụp phủ đến đời Mẹ, gia đình Mẹ, đồng bào của Mẹ, của những ngôn ngữ rêu rao cao cả từ những con người nặng lòng chủ nghĩa, đã một lần lộ mặt tráo trở với Mẹ- Nên một lần nữa Mẹ lặng lẽ chịu đựng cuộc "giải phóng đê tiện" lần thứ hai trong đời.

Ðời Tôi

-Tôi ngồi xuống bãi cỏ sau nhà. Giăng đã xế và nhỏ hơn đi một tí, xa hơn một tí. Hình như nó sợ những ý nghĩ của Tôi-Nó sợ những ý nghĩ dàn trải của quá khứ về một dân tộc không một nụ cười. Một dân tộc chỉ nhễ nhãi những mồ hôi, mờ ngập nước mắt, loang lở máu xương. Nó vẫn lung linh như giễu cợt! Hình như nó nó đang hỏi Tôi rằng: Tại sao con người Việt Nam các ông, các bà, không vượt lên trên được những bụi khói kháng chiến Thực Dân, những năm tháng thù hận tương tàn, những ân nghĩa phù phiếm Nga , Mỹ, Tây, Tầu, những năm tháng cay đắng tù tội cải tạo- để bước lên cao hơn, vào nằm trong nỗi bất hạnh trăn trở của cả dân tộc các ông, các bà hôm nay mà hành xử?

Những mất mát cá nhân dẫu có sát da xót thịt, nó vẫn nằm trong phần nhỏ bé của cái mất mát mà cả đất nước dân tộc đang gánh chịu. Lãnh thổ hao mòn-Nhân Dân cùng khốn nhục nhã. Mảng đời của các Ông, các Bà dẫu có dính líu ân tình của Nga, của Tầu, của Mỹ, của Pháp, của Úc v.v Nhưng với Dân Tộc này, Ðất Nước này, tất cả là những vết thương chí tử, vẫn còn loang lở. Nạn nhân của ngoại thuộc, của những thói quen vay muợn hơi người!

Tôi cúi xuống, tránh những tia soi mói giằng giặc của Giăng. Nhưng những lời diễu cợt của nó lại ẩn hiện, lấp lánh trong đám cỏ dại . Và bỗng thấy, quả thật chúng tôi, gần một trăm năm đô hộ giặc Tây- hai mươi năm tương tàn- Bảy mươi năm Cộng Sản, dẫu đang nói một thứ tiếng, nhưng không còn cùng một ngôn ngữ nữa rồi! Chúng tôi đang nói những ngôn ngữ có âm vang của Nga, của Tầu, của Tây, của Mỹ. Nó không còn tinh túy của Hùng Vương, của Bà Triệu, của Nguyễn Trãi. Cho nên Ðất Nước có hao mòn, mất mát, vẫn không vang dội, trằn trọc bằng mất một ngày lương, một nguồn bổng lộc, một chức vụ, một lời khen tặng xoa đầu của Chủ Tịch, Tổng Thống, Thủ Hiến, của Giáo Chủ, của Nữ Hoàng gì gì, nào đó.

Sự bạc ác, tính gian tham của CSVN nó kết tinh từ những thứ khốn nạn ấy. Nó nuôi dưỡng những cái ti tiện ấy để hả hê hưởng lạc. Cuộc nhũng loạn của ngoại nhân cũng cày xới từ những u mê này! Và từ đó, mỗi lần đối thoại với nhau, những âm vang lạ tai chát chuá ấy đã làm ù tai nhức óc chúng tôi, đến nỗi Chúng Tôi không còn khả năng lắng nghe tiếng của nhau nữa- Thế là chúng tôi chỉ còn biết gào thét cho thật to- Lôi kéo những ngôn ngữ lạ tai làm phụ trợ, cào cấu nhau, phân bua với nhau bằng những quá khứ "vàng son, công trạng" của mình, của đồng minh, đồng chí mình. Còn tên tội phạm đã đã phá nát giang sơn này, đầy đọa dân tộc này, kẻ bênh người chửi, nhưng là bằng tất cả những lý sự, chứng cớ mà cá nhân phe phái đôi bên cung cấp, dạy dỗ. Không ai buồn chỉ đích danh nó, tội trạng nó, những bất lương của nó, bằng những ngôn ngữ Việt Nam, những mất mát, tàn hại của cả dân tộc làm chứng cớ.

Trung Dung Bất Khả Năng.

Chung quanh tôi vùng ánh sáng bạc diễu cợt của Giăng đã dịu dần. Hình như nó an ủi , vỗ về tôi. Tôi nhớ lại những lời khuyên, những lời phê phán của người chung quanh tôi. Họ phê phán Tôi đừng chửi, đừng lên án Quốc Gia, vì Tôi cũng từng ở đất, ăn cơm Quốc Gia; rằng tôi đừng chửi , phê phánViệt Kiều, vì Tôi cũng là một Việt Kiều thì đừng chửi Việt Kiều; rằng Tôi đừng chửi , đừng phê phánTây Phương, vì Tôi đang sống ở Tây Phương là dân của Tây Phương...Và ...đừng chửi, đừng phê phán CSVN, vì Tôi còn về Việt Nam !!!! Nhưng không một ai phê phán, khuyên lơn những người Cộng Sản, Ðảng Viên đừng chửi, đừng phê phán, lên án Cộng Sản cả!!! Họ còn khuyến khích ca ngợi nữa: Sai thì phải nói phải lên án chứ!

-Không! không đúng. Có chứ! Có kẻ không những khuyên, mà còn răn đe những ngưòi ấy nữa: Ðám đầu lãnh Chính Trị Ðảng CSVN! Thế mới thấy đồng bào Tôi dẫu ở phe nào cũng cùng một tật bệnh oan nghiệt vơí cái tư duy não trạng lở lói như nhau: Ðặc quánh một lối tư duy nô lệ, trung thành phe phái.

Cụ Nguyễn Trãi xưa có nói: với những cảnh ngược ngạo như thế , thì "ai bảo thần nhân nhịn được". Tôi là con người thì sao tránh khỏi những hỉ nộ mà nhịn cho được cơ chứ! Tôi đã đọc sách Trung Dung, tư tưởng Trung Quán, nhưng không thể theo kịp, dẫu đã nhiều cố gắng theo cái trí thiển của mình..

"Thiên mạng chi vị tính, Suất Tính chi vị Ðạo, Tu Ðạo chi vị Giáo." Tôi không tu được đến một giây, dù có lúc Tôi đã cho rằng mình xoay vần với những chuyện nước non bên kia bờ đại dương, trong khi đang sống kiếp Việt Kiều bình lặng nơi đây, là một cái gì đó "bất an, bất ổn." Ðúng theo lời lẽ xuyên tạc, tuyên truyền của CSVN và của những đưá đã thành Tây.

-Hỷ, nộ, ái , lạc chi vị phát, vị chi Trung
-Phát nhi giai trúng tiết, vị chi Hòa,
-Trung giã giả, thiên hạ chi đại bản giã. Hòa giã giả, thiên hạ chi đạt đạo gĩa. Tri TRUNG HÒA, thiên địa vị yên, vạn vật dục yên. (Trung Dung)

Này Giăng kia! Thất tình của ngươi ở đâu? Sao ta chưa thấy- đừng phát tiết lên ta nhé, vì khi chúng chưa tách rời, chúng còn là một trong thiên tính- Nếu có phát tiết thì phát tiết đúng cách , không thêm bớt, hơn kém, để cho Thiên Hạ, Vạn Vật yên hòa, cho ta được bình tâm với nhé- Giăng! Ngươi quả Trung Dung rồi chăng? Giăng có phải là kẻ Trí Thức không? Vì kẻ trí thức thì thái quá đấy nhé! Ngươi có phải kẻ phàm phu không? Vì kẻ phàm phu thì bất cập, phải không? Thế thì Giăng cũng như Ta hay sao? Không phải Trí giả, Thức giả; không phải Phàm Phu? Hay cả hai chúng ta đều lợn cợn? Mà sao Giăng lại Trung Dung, Nhất Quán đến vậy?

A ha! Ta biết rồi! Có phải vì Giăng tròn trịa, đầy đặn, nên Dung được tất cả. Cho nên điểm nào nơi Giăng cũng là Trung phải không? Như vậy là khổ rồi Giăng ơi! Tâm ta vẫn đầy một mối nhân tình, nhi nữ và nước non! Sống nơi đây mà trí não mãi bên kia! Mừng giận đồ hồi! Ta chỉ còn biết làm theo điều Nghĩa mà thôi! Trung Dung bất khả năng!

Gió lạnh đã lên và Giăng đã trốn biệt tự lúc nào! Nó chán cái tâm sự hỗn độn của Tôi rồi đấy! Khuất theo hàng cây, trong ánh sáng mờ của nền trời chưa sáng, Tôi thấy Ðất Nước cả một dặm trường. Lòng đầy những ngổn ngang trăm mối. Ðời Mẹ, đời Cha đầy những quan quả điên liên! Ðời mình tràn ngập những chia cắt lãnh thổ của Tổ Tiên, những phân ly lòng người. Tôi nguyện sẽ phải đi, để lượm nhặt lại từng mảnh tâm tình đồng bào dẫu đã vỡ vụn trăm năm, nằm rải rác trên dặm trường đất nước. Thấp thoáng trong làn mây trắng xa mờ , Tôi thấy ẩn hiện hình bóng Mẹ vẫy gọi.

Ánh hừng đông từ xa lấp ló- Tôi bỗng nghe văng vẳng từ Quê Hương, bên kia bờ đại dương xa tít, tiếng sông núi chuyển bồi hồi.

Nguyên Khả Phạm Thanh Chương.
Ngày 21-Tháng 11- Tân Tỵ. 04-1-2002

Make your own free website on Tripod.com