Make your own free website on Tripod.com

 

NHỮNG ĐIỀU CẦN PHẢI PHƠI BÀY.

 

 

Lời thưa trước.

 

Khi bước chân vào con đựng đấu tranh mỗi người trong chúng ta phải chuẩn bị đón nhận và ứng xử với búa ŕu của dư luận. V́ bản chất của đấu tranh là v́ quần chúng, dù muốn hay không muốn, người đấu tranh, tự nhiên một cách nào đó, đă nhân danh v́ tập thể. Cho nên quần chúng tự nhiên có quyền chấn vấn và thắc mắc về ḿnh, về việc ḿnh làm, và nhân cách của ḿnh. Nếu không chuẩn bị được một tinh thần b́nh tĩnh, can đảm, sáng suốt và trách nhiệm để ứng xử những đ̣i hỏi từ quần chúng, lắm lúc khắt khe và nghiệt ngă, chúng ta không thể đi vào đấu tranh cho xă hội được. Ngay cả những tấn công mang tính cách cá nhân, đây, bên cạnh những tiêu cực, cũng là một khía cạnh tích cực của dân chủ tự do.

 

Với tư thế là một người Việt đang tạm dung xứ người, trên con đường cùng đồng bào Việt Nam trong nước đấu tranh trong diễn tŕnh dân chủ hóa đất nước, Tôi đă học đưọc năm (5) điều cơ bản:

 

1-Cuộc đấu tranh này là của toàn thể nhân dân Việt Nam, và nhân dân Việt Nam trong nước mới đủ tư thế, tư cách về pháp nhân, tộc nhân, và điều kiện cần phải có  để đưa cuộc đấu tranh đến thành công. Và như vậy, ngoài đồng bào Việt Nam trong nước ra, không ai có thể làm thế , làm thay được. Đây là bổn phận và trách nhiệm của đồng bào anh chị em dân chủ trong nước trong tư thế chủ lực. Như vậy chỉ có đống bào trong nước, công dân của nước Việt Nam, mới có đủ tư thế thẩm quyền xác nhận tính chính đáng của bất kỳ cơ chế, thể chế và biểu tưọng nào của đất nước dân tộc.

 

2- Người gốc Việt lưu lạc xứ người, do bản chất tự nhiên và khách quan của đời sống di dân, nếu c̣n hưóng về tương lai dân chủ của đất nước, dù có muốn cũng không thể làm khác hơn đưọc ngoài nhiệm vụ gánh bớt trách nhiệm cùng đồng bào trong nước trong những công việc mà người ở hải ngoại có điều kiện thuận tiện hơn bên trong nước, chứ không phải v́ người trong nước không thể làm được. Nếu người gốc Việt không làm, th́ đồng bào trong nước vẫn tiến hành và làm đuợc dù có thể gian nan hơn. Ngưọc lại người bên ngoài không thể làm đưọc những việc then chốt như đối đầu trực diện với cơ chế độc tài,  gần gũi vận động đồng vào đấu tranh v.v

 

3-Khi trích dẫn sách vở ngoại quốc viết về người Á Châu, đặc biệt là từ những thập niên trưóc trở đi, phải phân tích kỹ lưỡng những lời nhận định phê b́nh của người phương Tây về con người và đất nước Việt Nam, v́ tâm lư “thực dân thưọng đẳng” của họ đối với người khác mầu da, họ không có được cách nh́n đúng đắn chuẩn xác. Như người Pháp vẫn thường coi người Viêt Nam: đàn ông chỉ đáng làm tài xế, bồi bếp; đàn bà chỉ đáng làm con ở, đĩ điếm..Và dưói con mắt của các giáo sĩ Tây phưong, vua Quang Trung xấu xí hung bạo v.v Họ không hiểu đuọc cách hành xử mực thưóc của người Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng trong quan niệm Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Dũng (Nguyễn Gia Kiểng lạc vào lỗi này; khuyết điểm của Vũ Ngự Chiêu, tuy không nặng, cũng là ở chỗ này)  Và ngay ở Mỹ phải đến thập niên 70 trở đi óc khinh miệt người khác chủng tộc mới có gia giảm đáng kể nhờ có sự giao lưu mở rộng và hiểu biết cao hơn về văn hóa nhân bản của nhân loại sau cuộc đấu tranh nhân quyền và dân quyền, đứng đầu là mục sư Mạc tin-luy- tơ-- kinh ( Martin Luther King).

 

4- Hồi kư, dù của bất cứ ai, bên cạnh những sự kiện bằng chứng lịch sử, cũng đều cưu mang tính chất biện minh, bào chữa thanh minh cho bản thân ḿnh, nhũng người liên hệ thân thuộc của ḿnh. Nhũng cái sai, xấu không thể dấu hay đă lộ rồi mới viết đến, c̣n dấu đưọc cứ dấu! (như hồi lư Phạm Duy). Chẳng ai viết hồi kư để lên án ḿnh cả. Có lẽ trong đ̣i tôi chỉ thấy có đưọc cụ Phan Bội Châu viết hồi kư để tự phê phán ḿnh nh́n nhận sự sai lầm bất tài của ḿnh một cách khá chi tiết, kể cả những việc nếu không nói không ai biết.

 

5- Sự thật- là nền tảng của dân chủ tự do, và sự thật chỉ có thể có đưọc khi có tự do ngôn luận trong tranh luận và phản bác với những chứng cớ , suy luận thuận lư (logic) vượt khỏi niềm tin; và một nửa sự thật sẽ tai hại hơn là nói dối. Biết mà không nói là bất nhân, nói mà không nói hết là bất nghĩa, biết điều nhân, nghĩa mà không làm là bất trí vô dũng..

 

Chính nguyên tắc thứ 5 này đă buộc một con người có lương tâm phải có bổn phận lên tiếng bất kỳ sự việc ǵ có hại cho sự thật, tức là có hại cho lư tưởng của dân chủ, ư thức dân chủ, đặc biệt là trong hoàn cảnh dân trí của xă hội Việt Nam, và con người Việt Nam, cả trong lẫn ngoài hôm nay.

 

Sở dĩ tôi xác định như vậy v́ đă có rất nhiều bè bạn thân hữu góp ư cản ngăn tôi rằng đừng nói những điều ấy, rằng không có lợi, rằng sẽ có thể đụng chạm anh này, chị nọ, ông ấy, bà kia! Và nhất là dẫu sao ḿnh cũng từng sống ở miền Nam mà đi ra, không nên nói thế v.v

 

Trưóc khi vào việc chính tôi xin thưa ngay là ở đây:  vấn đề hôm nay, dù là ở đâu cũng là viêc của chung, việc đất nưóc, không có chỗ cho những t́nh cảm cá nhân vị nể ở đây. Nếu những cá nhân có liên quan đến những sự việc cần phải nói, th́ đó là do việc làm của những cá nhân ấy có liên quan đến việc chung. Như vậy cho dù họ có làm đúng điều “nghĩa lư” chung hay không họ cũng đă tự đặt họ vào trong ṿng dư luận quần chúng, lời khen tiếng chê: vui vẻ nhận hoa, th́ cũng phải can đảm chịu nhận lănh cà chua trứng thối. Và rằng Sự Thật không bao giờ bất lợi cho Chính Nghĩa, mà c̣n ngược lại nữa ḱa: Sự Thật chỉ bất lợi cho những âm mưu bất chính, năo trạng bất lương mà thôi. C̣n nói là v́ đă từng sống ở miền Nam th́ không nên nói lên cái tiêu cực ở miền Nam th́ quả thật chúng ta ngụy tín mất rồi.. Chúng ta thật bất công, bất lương và bất nhân với những người như anh Vũ Thu Hiên, Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần, Triệu Quyết Thắng, Hữu Nguyên và những anh chị em dân chủ trong nước v.v Những người từng sinh ra và lớn lên tại đất Bắc, có nhiều người đă từng hưỏng bổng lộc quyền uy của chế độ, thế mà chúng ta hể hả, mừng vui nghe họ trần t́nh về cái xă hội, chế độ đă từng “cưu mang đào tạo nuôi nấng” họ. Chúng ta tung hô khuyến khích họ! Trong trựng hợp anh Vũ Thư Hiên, nhiều người c̣n hậm hực v́ anh Vũ Thư Hiên khi nói về những “đêm giữa ban ngày” của quê hưong đă không hoặc chưa đề cập đến cụ thân sinh của anh “đúng mức”, mà theo họ, cụ là một trong những “tội đồ có nợ máu” với nhân dân miền Nam (sic)!!! Trong khi , cũng như  thế , tôi có làm ǵ khác hơn anh Vũ Thư Hiên, ông Trần Độ, ông Nguyễn Hộ, bà Dưong Thu Hưong đâu? Cái khác là quí anh chị ở trên đă từng sống ở đất Bắc dưói chế độ CSVN th́ họ bàn về những khốn nạn của miền Bắc, nhũng khốn nạn vẫn c̣n làm đau đớn nhục nhă quê hưong đất nước. C̣n tôi, sống ở miền Nam th́ bàn những đốn mạt ti tiện ở miền Nam! Những ti tiện bẩn thỉu đốn mạt vẫn c̣n làm nhục tổ tiên, mà nếu cứ  để tiếp diễn sẽ làm hại dân chủ, bán đứng đất nưóc dân tộc trong tương lai-  Các bạn góp ư ngăn cản, lên án tôi, các bạn có nhận ra sự vô lư phe phái một chiều, ngụy tín với năo trạng hàm ơn tối dạ, thiển cận, và cái tâm tư thiếu ṣng phẳng công chính của ḿnh không?  Tôi sẽ bàn chi tiết về năo trạng này trong bài viết, để xin phép đưọc vào chủ đề chính.

 

Tính Bất Lương của cái gọi là chiến dịch vinh danh cờ Vàng:

Năo trạng Cờ Vàng và Mặc cảm Lằn Ranh Quốc Cộng, đă trở thành gánh nặng cản trở sự đoàn kết dân tộc trong tiến tŕnh dân chủ hoá đất nước Việt Nam.

 

Trưóc đây Tôi có viết một loạt bài nhận định về t́nh h́nh hải ngoại của những người ngoại quốc gốc Việt (Đất nước một mầu sương) nhưng v́ không chủ trương “tranh đấu tại hải ngoại” nên Tôi không bàn nhiều trừ khi sự việc có ảnh huởng lớn đến t́nh h́nh ở trong nước. Nhưng gần đây, sau khi ở trong nước bị trục xuất ra, Tôi có dịp qua Mỹ lo việc cá nhân, mới nh́n rơ hơn đưọc những sinh hoạt của người gốc Việt, đặc biệt là sinh hoạt chính trị có liên quan đến cuộc đấu tranh dân chủ tại Việt Nam. Những suy tư nhận định đă chai  cứng từ năm 1975 vẫn c̣n tồn đọng nặng nề dù sau 30 năm biến đổi từ thời cuộc cho đến con người!!!

 

Thật sự là kinh khủng khi có thể tưọng tưọng đưọc một năo trạng, không phải chỉ của một cá nhân, mà của cả một thế hệ  đă không tiến hóa sau 30 năm, tệ hại hơn nữa là đă “di truyền” xuống thế hệ nối tiếp!!! Tôi đă “kinh hoàng” khi một cá nhân bất luận là ai (như ông Nguyễn Chí Thiện, Phan Nhật Nam ) cũng có thể “trở thành” Cộng Sản nằm vùng! Và khi có một sự “khác biệt” nào đó th́ cái tập thể “chống cộng” và “thể chế chống cộng” vốn dĩ đă bé nhỏ so với dân số trong nước Viêt Nam, lại càng ngày càng nhỏ hơn nữa (v́ già nua, thế hệ nối tiếp mai một do hoàn cảnh khách quan như hội nhập hoàn toàn không c̣n ư thức văn hóa, ngôn ngữ Việt, và hôn nhân dị chủng v.v)  lại càng thu nhỏ hao ṃn khi bỗng nhiên có thêm những “tên cộng sản nằm vùng” đưọc “khai quật và khai trừ”, có khi đưọc “tái hồi” (như trựng hợp nhà văn Nhật Tiến- Nguyễn Xuân Nghĩa khi c̣n là cán bộ của Mặt Trận QGTNGPVN – nhà văn Duyên Anh đă quá văng sau khi bị “khai tử hụt”-Nguyễn Ngọc Ngạn với Thúy Nga B40 v.v rồi bây giờ (2004) là ông Nguyễn Hữu Chánh & Ngưyễn Huy Cơ v.v – và ở Úc th́ có ông nhà báo Hữu Nguyên; ở Đức có nhà văn Trường Xuân Triệu (Triệu Quyết Thắng)-  có thể kể thêm cá nhân tôi và gia đ́nh anh chị em tôi! Mặc dù Tôi không chống Cộng!(xin đưọc bàn sau vấn đề này trong bài). Bây giờ th́ Tôi hiểu tại sao đảng CSVN không cần đặt trạm tuyển mộ đảng viên và ban ám sát ở hải ngoại!!!)

 

Kh́ nh́n những đồi bại về nhân cách, sa đọa về tư tưởng  trong nếp văn hóa ứng xử với nhau như vậy, Tôi quyết định phải viết về “hải ngoại” này một lần nữa. V́ những sinh hoạt “chính trị” như vậy, đă nhân danh tự do dân chủ trong nước, đang đi đến vực thẳm phân hóa, bất nhân, phi đạo lư  chẳng khác ǵ cung cách hành xử của chế độ CSVN hiện nay- và  hiện trạng này đă, và đang gây ảnh hưỏng xấu cho việc xây dựng ư thức dân chủ tự do trong nước càng ngày càng nguy hiểm! Một trong nhũng nguyên nhân rơ nét nhất là Năo trạng Cờ Vàng và Mặc cảm Lằn Ranh Quốc Cộng, đă và đang trở thành gánh nặng cản trở sự đoàn kết dân tộc trong tiến tŕnh dân chủ hoá đất nước Việt Nam.

 

VẤN ĐỀ CỜ QUẠT!

 

Trong suốt 30 năm kể từ ngày bị Mỹ “bỏ rơi”, rồi thua cuộc bỏ chạy ra nước ngoài, những nhân sự của chế độ Ngụy độc tài quân phiệt miền Nam đă đưọc nâng cấp từ chiến tranh tương tàn “chống-CSVN” lên “bậc” đấu-tranh-cho-tự-do-dân-chủ. Ngay cả “kẻ độc tài độc diễn” như Nguyễn Văn Thiệu khi c̣n sống đă có lần lên đài phát thanh “góp ư hưóng dẫn” người Việt đấu tranh dân chủ nữa cơ đấy! Hèn ǵ tôi vẫn thựng nằm mơ thấy Hồ Chí Minh và Pôn Pốt hội thảo nhân quyền và lên án tội ác với đám tổng thống hiếu chiến của Mỹ như Rích Chà Ni Xơn!!!  (bây giờ theo góp ư của một bạn trẻ -Thăng Long- từ trong nước đi du học- th́ CSVN nên đưc gọi là đại Ngụy- và tôi đồng ư cả hai chân hai tay. Nói cho cùng đại hay tiểu th́ Ngụy vẫn là Ngụy) Kể ra cũng là điều phúc cho đất nước khi có những đưá con độc tài quân phiệt nay lại “trở nết” rao giảng nhân quyền và dân chủ tự do!  Nhưng khổ thay, mỹ từ “tranh đấu cho dân chủ tự do”  đă đưọc “độc quyền hóa” cho “thể chế chống cộng”, và đặc biệt là  lá cờ vàng ba sọc của chế độ NGỤY VNCH dù đă  chết, nhưng vẫn được dùng như một định chuẩn giá trị nhất, duy nhất để nhận diện đánh giá người Việt có thật sự yêu tự do dân chủ hay không!!! Nhất là từ khi có cái gọi là  “chiến dịch xác định lằn ranh Quốc Cộng và  vinh danh cờ vàng” đuợc phát động! Điều này nghe ra th́ thật sự khôi hài và bệnh hoạn! Nhưng tại sao nước đời “tị nạn” lại lắm “giun đỉa” như vậy?

 

Năo Trạng Cờ Vàng, mặc cảm lằn ranh Quốc Cộng: Lối ṃn tư duy!

 

Ư niệm lá cờ là biểu tưọng của một quốc gia dân tộc dựa trên quan niệm quốc gia hiện đại (Modern Nation State) thật sự đưọc khởi đi từ ư thức dân chủ, người dân làm chủ xă hội và đất nước đưọc coi như khởi đầu từ cuộc cách mạng Mỹ vào năm 1777. Ở các nơi khác, lá cờ vẫn chỉ là biểu tưọng của một  vưong xứ (vưong kỳ) hay đế quốc, (đế kỳ). Cho đến khi phong trào giải thực khởi sự (giải thể cơ chế đế quốc thực dân) với sự độc lập của nhiều quốc gia, và sự ra đ̣i của nhiều quốc gia mới, th́ ư niệm lá cờ biểu tưọng cho quốc gia dân tộc đă trở thành điều cơ bản chung của mọi xứ sở trên thế giới. Có nhiều quốc gia đă giữ lại lá cờ của thời phong kiến, quân chủ, đế quốc làm quốc kỳ, có những quốc gia chọn cờ mới v.v nhưng tựu trung lá cờ chỉ thật sự trở thành ư nghĩa quan trọng và có hồn dân, hồn nước khi đuợc đại đa số nhân dân quốc gia đó thừa nhận bằng những cách thức khác nhau không theo một mô thức nhất định- đó là chưa nói đến tính văn hóa của từng dân tộc Đông Tây trong cách trân trọng lá quốc kỳ của họ cũng vẫn khác nhau biền biệt). Căn bản vẫn là “tấm vải mầu” đó đă đưọc đa số nhân dân quốc gia đó mặc nhiên thừa nhận là biểu tượng chung của họ trên trựng quốc tế. Và nó sẽ c̣n thay đồi tùy vào quan điểm, nhu cầu văn hóa, xă hội, và chính trị thay đổi của những thế hệ trong tưong lai của quốc gia đó (như trựng hợp của Úc Đại Lợi đang trên đựng tiến đến nền cộng hoà.)

 

Lịch Sử lá cờ vàng ba sọc.

 

Với đất nưóc dân tộc Việt Nam, sự việc ra đ̣i của lá quốc kỳ theo ư niệm mới của thời đại trong nhu cầu chính trị bang giao cũng không nằm ngoài biệt lệ như đa số các quốc gia khác. Có khác chăng là ở sự lấn cấn nhùng nhằng của lịch sữ cận đại tương tàn oan khiên vẫn chưa khai giải đưọc. 

 

Ư thức lá cờ biểu tưọng cho quốc gia dân tộc Việt Nam với kích thưóc trong trường chính trị quốc tế hiện đại chỉ khởi sự chính thức từ năm 1945, mặc dù trong thập niên 1860 khâm sai đại thần Phan Thanh Giản và Phạm Phú Thứ có lần đi xứ bên Pháp. Khi Pháp khai mạc đại hội có thủ tục bắn đại bác chào mừng quốc khách, hiện diện lúc bấy giờ có đại diện của An Nam là phái đoàn do cụ Phan Thanh Giản cầm đầu. Người Pháp hỏi phái đoàn An Nam xin đuợc đưa quốc kỳ ra để làm lễ thượng kỳ. Dĩ nhiên phái đoàn An Nam rất lúng túng v́ không có ư niệm hành xử ngoại giao với lá quốc kỳ như vậy và cũng không có quốc kỳ. Theo lời thuật lại th́ Phan Thanh Giản đă phải lấy tấm nhiễu gói tráp đụng chiếu khâm mạng của Vua ra để làm cờ cho An Nam. Cho đến bây giờ cũng không ai rơ tấm vải bọc mệnh Vua đó mầu ǵ? Đỏ hay vàng? V́ vua chúa Việt Nam hay thựng dùng mầu vàng. Nhưng cũng có khi dùng mầu đỏ trong những trựng hợp trao mệnh lệnh của ḿnh cho thần tử, bầy tôi để tỏ sự mong mỏi “hỷ sự, mă đáo thành công”, và nhất là tỏ mệnh lệnh cương quyết để bậc tôi thần (mầu đỏ) phải cố sức hoàn thành. Nhưng khi Phan Thanh Giản về nưóc chỉ kể lại như một cố sự nhỏ trong du kư mà không tŕnh tấu lên cho vua biết  như một nhu cầu chính trị mới.

 

Như vậy rơ ràng lá cờ vàng ba sọc mà nó đă “chết” năm 1975 và hiện nay đang được “thể chế chống cộng” ở hải ngoại sử dụng,  thật sự không phải khởi đi từ lá cờ quẻ ly mà ông Trần Trọng Kim và Bảo Đại đă chọn lựa. Nhưng ta cũng nên bàn về nó một “tí.”

 

Khi thế lực quân phiệt phát xít Nhật quyết định đảo chính thực dân Pháp vào đầu năm 1945, người Nhật, theo “thông lệ” của đế quốc là phải dựng một nhà nưóc bù nh́n. Người Nhật đă đưa ông Trần Trọng Kim lập chính phủ để trao lại “độc lập chủ quyền cho Việt Nam.” Và ông Trần Trọng Kim đă chọn h́nh quẻ Ly trong Dịch để làm quốc kỳ, mà theo lời biện giải của ông sau khi chính phủ của ông thất bại, trong quyển hồi kư “Một Cơn Gió Bụi”  tức “Kiến Văn Lục” viết vào năm 1949 khi ông lưu vong ở Nam Vang (trong lúc này Việt Minh, Pháp và thế lực tay sai đang tương tranh sau giải pháp Hạ Long) :

 

“Nưóc Việt Nam đă là một nưóc tự chủ (!?), th́ phải có quốc kỳ và quốc ca. Bài quốc ca th́ từ trưóc vẫn dùng bài “Đăng Đàn”,  là bài ca rất cổ mà âm điệu nghe nghiêm trang. Chúng tôi nghĩ trưóc khi có bài nào hay hơn và có ư nghĩa lư hơn th́ hăy cứ dùng bài ấy.

 

C̣n lá quốc kỳ, mỗi người bàn một cách, chúng tôi định đem hỏi mọi người trong nước và ai có ư kiến ǵ, th́ vẽ kiểu gởi về . Có kiểu lá cờ vàng quẻ Ly ở giữa là có ư nghĩa hơn cả. Chúng tôi định lấy kiểu ấy làm quốc kỳ.

 

Lá cờ vàng là từ xưa nưóc ta vẫn dùng. Trong sách “Quốc Sử Diễn Ca” nói khi bà Triệu Ẩu nổi lên đánh quân Tầu, đă dùng lá cờ ấy khởi nghĩa, nên có câu rằng “Đầu voi phất ngọn cờ vàng”. Vậy lấy sắc cờ vàng là hợp với ư cách mệnh của tổ quốc, lấy dấu hiệu quẻ Ly là v́ trong lối chữ tối cổ của ta có tám chữ viết bằng vạch liền (dương) và những vạch đứt (âm) để chỉ tám quẻ, chỉ bốn phương chính và bốn phương bàng, nói ở trong kinh dịch, mà quẻ Ly chủ phương Nam. Chữ Ly c̣n có nghĩa là lửa là văn minh là ánh sáng phóng ra bốn phương.

 

Lấy sắc vàng sắc vàng là hợp với lịch sử, lấy quẻ Ly là hợp với vị trí nưóc nhà, lại có nghĩa chỉ một nưóc văn hiến như ta thựng tự xưng. Như thế là lá cờ vàng vẽ Ly là có đủ các ư nghĩa.

 

Song có người nói: Cờ quẻ Ly là một điềm xấu cho nên thất bại, v́ ly là ĺa. Ly là ĺa là một nghĩa khác chứ không phải nghĩa chữ Ly là quẻ. Và việc làm của một chính phủ là cốt ở cái nghĩa lư, chứ không phải sữ tin nhảm vô ư thức.

 

Việc thất bại là v́ t́nh thế chứ không phải v́ lá cờ. Giả sử dùng lá cờ khác mà trong hoàn cảnh ấy có thay đổi đuọc ǵ không?”[1]

 

Ở đây cần phải nói rơ là ông Trần Trọng Kim biện minh có hơi buồn cựi là:  “nưóc Việt Nam đă là một nưóc tự chủ”!!! Như vậy một là ông ngây thơ, hai là ông cố t́nh bào chữa. Chứ ai mà lại có thể tin được một nưóc đang bị đô hộ bởi thực dân Tây, rồi lại “đưọc” giải phóng bởi quân phiệt phát xít Đại Đông Á Nhật mà lại có tự chủ bao giờ! Ngay như bây giờ, năm 2004 mà Ia Rắc do “dân chủ nhân quyền” Mỹ “tự nguyện” đến “giải phóng không công” và vừa  giao lại “chủ quyền” c̣n chưa thấy “tự chủ” nữa là!   Nhưng ít ra, theo như lời biện giải này th́ rơ là nưóc ta trước đó chưa hề có “quốc kỳ”, ít nhất là trong suốt thời gian bị đô hộ theo như ông Trần Trọng Kim ! Nhưng lại có “quốc ca” là bài hát nhạc “cổ, nghiêm trang”, mà  theo tôi suy đoán  là lối nhạc “thiều” của thời quân chủ nho giáo, (chữ “thiều=nhạc” trong “quốc-thiều”) đưọc hát trong những dịp cử hành lễ lớn trong triều đ́nh chứ không phải loại quốc ca phổ cập mà dân gian ai cũng biết. 

 

Nhưng ông Trần Trọng Kim rơ ràng  khiên cưỡng v́ ông trung thành với nhà Nguyễn, cho nên ông không nhắc đến thời huy hoàng của đất nước dân tộc gần cận ông nhất là thời Quang Trung Hoàng Đế khi đánh bại quân xâm lược Măn Thanh đă dương cờ đỏ đại nghĩa dân tộc: “Mà nay áo vải cờ đào, một tay dựng nưóc xiết bao công tŕnh..” (Ai Tư Văn, Bắc Cung Hoàng Hậu Ngọc Hân).

 

Ngay trong tập sử kư của ông, ông Trần Trọng Kim cũng không thẳng thắn viết về Quang Trung Hoàng Đế đúng với tưóc hiệu niên hiệu của Ngài, mà chỉ gọi là Bắc B́nh Vưong Nguyễn Huệ theo tưóc của vua Lê phong cho Nguyễn Huệ (Quang Trung) khi ra Bắc dẹp Chỉnh, mà nhà Nguyễn vẫn coi vua Quang Trung là nhà Ngụy. Ta mới thấy tinh thần tôn quân triều Nguyễn của ông  khiến ông thiếu trung thực trong tư thế một sử gia. Ông chỉ viết trong tư thế một bầy tôi của triều Nguyễn!  Chính v́ vậy mà ông đă có chủ ư bênh vực lấy quẻ Ly làm cờ “quốc gia tự chủ”, v́ Ly  là mặt trời, ngôi “cửu hoàn” tôn quân, mà ông vẫn coi Bảo Đại là vua- và lại vừa ư hướng của Yokohama (khâm sai đại sứ của Nhật Hoàng) là tiến hành chủ nghĩa Đại Đông Á, theo t́nh thần Mặt Trời Phưong Đông tỏa sáng (Thái Dưong Thần Nữ), dù quẻ Ly cũng có ư chỉ tính Sáng Chói (chữ Minh do chữ Nhật và Nguyệt hội ư chỉ sự mà thành). Nhưng theo các hào khác, nếu là quẻ kép, th́ mỗi hào mỗi ư riêng biệt.  Thật ra theo đúng tinh thần kinh Dịch chủ quẻ Ly đơn th́ chỉ là : “Ly lợi trinh, hanh, xúc tẩn ngưu, cát” (Quẻ Ly lợi cề sự chính, hanh, nuôi trâu cái tốt.) Như vậy ông Trần Trọng Kim đă có chủ ư và cố chọn lá cờ quẻ ly là v́ ẩn ư tương nhượng giữa sự tôn quân nhà Nguyễn -Bảo Đại- và sức ép ngầm của “tinh thần” Đại Đông Á Nhật, chứ không phải chỉ đơn thuần  là những lư do ư nghĩa mầu vàng- quẻ ly mà ông Trần Trọng Kim đă viện dẫn.

 

Cũng chính v́ vậy mà sau khi phát xít Nhật thua trận, thực dân Pháp tràn vào lại th́ cờ quẻ Ly coi như mất biệt. V́ chính phủ của ông Trần Trọng Kim trở thành tội phạm v́ đă theo “ủng hộ Nhật”! Nhưng nhân sự của chính phủ thân Nhật của ông đă thoát nạn êm thắm v́ nhiều lư do chính trị lúc bấy giờ. Nhưng có một điều phải nói rơ ràng ra ở đây, là Nhật đă vào Đông Dương trưóc đó rồi, nhưng v́  thế lực thực dân Pháp   đang cai quản Việt Nam đă theo phe trục dưói sự lănh đạo của chính phủ của thống chế Pê Ten ở mẫu quốc. Cho nên Nhật vẫn cứ để thực dân Pháp nắm hành chính. Cho đến khi có nhu cầu th́ Nhật mới “đảo chính” Pháp là v́ vậy. Cho nên những nhân sự thực dân Pháp, nói theo lư, th́ cũng có tội “theo địch”. Thành ra “xí xóa”! Cũng v́ thế mà đến năm 1948, khi Pháp cử tay sai là Nguyển Văn Xuân thi hành giải pháp Bảo Đại để tái thực dân Việt Nam, th́ tại Hạ Long, “chính phủ của nưóc Việt Nam tự chủ” lại phải chọn lá cờ khác, đó là cờ vàng ba sọc đỏ. Và đây mói là ngày sinh nhật của lá cờ “bất hạnh”.  Nói là bất hạnh v́ nó ra đời theo nhu cầu của mẹ đỡ thực dân và đám quốc tịch Tây, tay sai đánh thuê  cho thực dân Pháp, rồi sau đó bị lôi cuốn vào với độc tài nhà Ngô, rồi lại bị quân phiệt độc tài lôi kéo theo nhu cầu quyền lợi của đế quốc Mỹ - để rồi chết đứ đừ năm 1975, sau 27 năm bị “Pháp và Mỹ cùng tay sai bản xứ cưỡng hiếp chính trị.” Thân phận của lá cờ vàng quả thật đau đớn như thân phận nhân dân miền Nam Việt Nam nói riêng, và nhân dân cả nưóc nói chung: Chưa bào giờ đưọc sống bay phất phới như là chính ḿnh, cho những người đứng chào ḿnh!

 

C̣n một chi tiết nhỏ nhưng quan trọng liên quan đến văn minh của dân tộc Việt của chúng ta, xin đưọc thưa ngang ở đây với các vị sử học và đặc biệt là các bạn trẻ Việt Nam. Xin để ư là ông Trần Trọng Kim khi đề cập đến quẻ Ly trong Bát Quái, có nói “.. là v́ trong lối chữ tối cổ của ta..” Có thể nhiều bạn trẻ sẽ thắc mắc tại sao kinh Dịch là của Tầu mà chữ trong Bát Quái lại là tối cổ của ta? Xin thưa ngay là theo một số nghiên cứu, trong đó có cụ thân sinh của tôi, mà nếu không lầm, đă có thời gian, trưóc năm 1975, trao đổi bàn bạc với triết gia Lương Kim Định rằng Hà Đồ Lạc Thư là phẩm vật (do tộc Việt của ta trong Bách Việt cống cho tộc Hán, hoặc bị lấy đi trong khi thua trận, tất cả đưọc khắc trên mai rùa thật lớn như con rùa ở Hồ Gươm.) Sau đó Vua tộc Hán mới “cựng điệu” lên là có con Long Mă ở sông Hoàng Hà hiện h́nh để thánh hoá vai tṛ “thiên tử” và vơ cái công tŕnh tư duy của Lạc Việt này vào làm của kẻ chiến thắng! Tôi chỉ xin trao đổi ở đây như một dấu chấm than (!) và chấm hỏi (?) để các bạn t́m hiểu thêm về văn minh văn hóa cổ đại của dân tộc ta không chỉ dừng lại ở trống Đồng! Tôi nhớ h́nh như trong một hai quyển sách của triết gia Kim Định có đề cập đến vấn đề này, và h́nh như cả Yên Tử Cư Sĩ cũng có nghiên cứu liên quan sự việc này. Mong các bạn có thời gian truy cứu. Tôi là đưá con bất hiếu, người dân bất mục, không đủ tài nối chí cha, làm sáng công đức tổ tiên dân tộc, đến cả sách cụ thân tôi viết  trưóc 1975, tôi cũng không giữ đưọc. Nay lang bạt kỳ hồ, sống đ̣i tha phương, ṃ mẫm theo công cuộc dân chủ, không c̣n đủ giờ, đủ sức, đủ uyên bác để làm việc này.

 

Tôi bàn ở đây là cho rơ chuyện thôi, chứ chính ông Trần Trọng Kim đă xác định về tính chất lá cờ rồi! Dẫu là có ít nhiều ngụy biện và biện minh, cũng phải công nhận là kết luận của ông Trần Trọng Kim chí lư. Nhưng việc thất bại không hẳn là v́ “t́nh thế”  nhưng nhất định không phải v́ lá cờ. Lá cờ chỉ là biểu tưọng chứ không góp phần quan trọng trong việc thực hiện cái “nghĩa lư”, tức chính nghĩa và lư tưỏng công cuộc chung. Cái chính là phải thực hiện cái “nghĩa lư” mà mọi người có trọng trách tuyên dương và theo đuổi! Thế cho nên có bỏ cờ quẻ Ly (Ly ĺa tán) để lấy quẻ Càn (Càn bậy chăng??!!) mà cũng có ư nghĩa dịch lư hay ho: “ Càn, nguyên, hanh, lợi, trinh (Càn: đầu cả, hanh thông, lợi tốt, chính bền)  Cũng chẳng hanh thông chính bền mà lại càn dở, mạt vận từ đầu đến cuối vào năm 1975; rồi những kẻ bây giờ sử dụng, nhân danh nó cũng vẫn cứ làm càn, làm bậy, chỉ v́ không thực tâm thi hành đúng theo cái nghĩa lư của đại nghĩa ḷng dân: tự do dân chủ! Cho nên tôi xin đưọc kết phần bàn về cờ quẻ Ly bằng cách đảo ngưọc ư lời kết biện luận của ông Trần Trọng Kim là:

 

Việc thành bại là v́ t́nh thế, trí lực, nhân lực, nhân tâm (thiên thời địa lợi nhân ḥa) và ở việc làm cụ thể  thực hiện minh chính cái  nghĩa lư (chính nghĩa lư tưởng) chứ không phải v́ lá cờ. Giả sử dùng lá cờ khác mà hành xử chân chính và thành công trong hoàn cảnh ấy có ai chống đối  đuọc ǵ không?”

 

Ngay cả lá cờ CSVN, “thành công” mà không hành xử chính đáng, tâm kẻ lănh đạo không trong sáng thực tâm, thành ư thực hiện cái “nghĩa lư” độc lập tự do ước vọng của dân tộc, mà chỉ lừa bịp tráo trở, và ngay bây giờ vẫn hành xử tồi bại với nhân dân đồng bào, làm băng hoại đất nưóc, th́ với hoàn cảnh ấy ai là kẻ có lưong tâm lại không chống  đối..Những loại người:

 

Cực bậy mà lại ghét người chê ḿnh,

rất dở mà lại thích người khen ḿnh;

bụng dạ như hổ lang, ăn ở như cầm thú,

mà thấy người ta không phục lại không bằng ḷng.

Thân với kẻ xiểm nịnh, xa cách kẻ can ngăn;

thấy người chính trực th́ cười, thấy người trung tín th́ chê...(Tuân Tử)

Như thế th́ dù “ muốn không có ai chống đối”  cũng không được.

 

Nhưng vẫn có một số người “đầu tôm” đă viện dẫn rất gưọng gạo để bảo vệ cờ vàng, rằng dù sao những cái “chính quyền của Bảo Đại làm quốc trưỏng” (Xuân, Tâm, Hinh)  cũng có “chính nghĩa”, v́ phải chọn cái ít xấu nhất để chống cộng. V́ “chống cộng” mới là mục tiêu chính (sic)!!! Thế th́ xin hỏi năm 1954, khi Pháp kéo quân đánh với Việt Minh (ở đây cứ tạm cho là Việt Cộng như những cái “đầu tôm” đó nghĩ quẩn đi) có các đơn vị lính “Việt” dự  trận (Tiểu đoàn 5 nhảy dù VN (Bavouan-bataillon parachutiste vietnamien, lính dù VN trong tiểu đoàn dù 1 và 2 –Lê-dương dù (Bataillon Etrangere Parachutiste), tiểu đoàn 1 & 6 Dù thuộc địa (Bataillon parachutiste coloniaux) Tiểu đoàn 2 và 3 Thái (lính từ thượng du Bắc Việt), tiểu đoàn 301 VN)[2] cùng chiến tuyến “lằn ranh” vói “đồng minh dân chủ tự do Pháp”; vậy th́ những người Việt này là “quốc gia” sát cánh với “đồng minh tự do Pháp” đánh Việt Cộng bảo vệ “tự do dân chủ”, hay họ là tay sai, lính đánh thuê cho thực dân Pháp trong dă tâm tái lập chủ nghĩa thực dân, tái chiếm Việt Nam hầu bóc lột sự trù phú của Việt Nam để vực lại nền kinh tế của mẫu quốc đă kiệt quệ sau thế chiến khi bị Đức chiếm đóng,  chống lại ưóc vọng độc lập của nhân dân Việt Nam?

 

Nếu họ là những người lính của “quốc gia” cùng “đồng minh tự do” Pháp chiến đấu chống “cộng” (thật ra là Việt Minh, những người yêu nưóc) th́ tại sao kẻ sống trở thành tưóng lănh đạo VNCH như Phạm Văn Phú (trong trận ĐBP là trung uư dù Pháp, bị quân dân Việt Nam bắt làm tù binh), c̣n người chết chẳng ai ghi công tưởng nhớ? Phải chăng có sự tay sai  khuất tất? Hay vô ơn bất nhân?

 

Thật ra cái khuất tất là ở ngay “năo trạng cờ vàng, lằn ranh chống cộng” tối dạ -con tôm, lập luận vơ vào nên vơ phải “phẩn thối”. Kẻ kém cỏi u mê ngớ ngẩn đă đành mà ngay cả cái miền Nam bao nhiêu là khoa bảng cũng sợ độc tài Ngụy không dám thẳng lưng mà xác định rằng chiến thắng Điện Biên Phủ là của nhân dân Việt Nam, đưọc xây bằng xưong máu của những người con yêu của tổ quốc anh hùng và bất khuất, mà CSVN chỉ ăn hớt công trạng và phản bội đồng bào sau đó mà thôi. Những năo trạng chia phe, chia lằn ranh quốc cộng tăm tối xuẩn động, bất nhân đă giúp thêm cho CSVN có chính nghĩa bằng cách chối bỏ chiến công Điện Biên Phủ và coi như “nhựng hết” công lao xưong máu của những người Việt Nam yêu nưóc cho đảng CSVN trong chiến tích vĩ đại này!  

 

Tính Bất Lương của cái gọi là chiến dịch vinh danh cờ Vàng

 

Bảo vệ lá cờ mà ḿnh một thời yêu mến hay gần gủi với nhiều kỷ niệm vui buồn, và vinh danh nó là điều chính đáng, cho nên việc vận động cờ vàng ở Mỹ của người Mỹ gốc Việt trong ư nghĩa giới hạn “di sản của người Mỹ gốc Việt” (the heritage of Vietnamese Ameriacans) th́ chẳng có ǵ đáng bàn căi. Nhưng cái bất lưong là hư cấu sửa đổi sự thật và nhập nhằng tuyên bố rầm rộ là lá cờ biểu tưọng cho dân tộc đất nưóc Việt Nam, biểu tưọng chính nghĩa đấu tranh, chính nghĩa quốc gia chính thống, biểu tuợng tự do dân chủ v.v là không đúng đắn và gian lận!

 

1-     Lá cờ “Càn” vàng ba sọc đỏ này, theo đúng  nguyên nhân, mục đích chào đời của nó như đă tŕnh bày, chưa bao giờ là biểu tượng cho đất nưóc dân tộc Việt Nam, v́ nguyện vọng của dân tộc Việt Nam cả.

2-     Và cũng theo “hành trạng lịch sử” của nó cho đến lúc bị kéo xuống nhục nhă, th́ cũng chưa bao giờ được dùng để tiêu biểu hay phát huy khát vọng  tự do dân chủ của dân tộc cả. Chỉ dùng để “chống cộng” cho những nhóm chính trị mà đa số lại rặt là tay sai ngoại bang, độc tài đảo chính quân phiệt mà thôi.

 

Gian lận bất lương ở chỗ khi vận động với chính giới của Mỹ, th́ họ “nhỏ nhẹ khiêm tốn” đúng mức chỉ là “di sản của người Mỹ gốc Việt”. Nhưng khi nói với người đồng hương, vốn nhiệt thành dễ tin, th́ lại khoa trưong khuếch đại. Tính bất lương càng rơ khi lẽ ra, nếu chính đáng họ đă phải chính thức bảo vệ “chính nghĩa” của họ bằng những minh định rơ ràng tinh thần văn bản nghị quyết đă kư với chính giói sở tại  của Mỹ để đánh bạt đi những “dư luận cựng điệu sai trái”; nhưng họ tảng lờ xuôi theo “dư luận méo mó” cho đến khi có ai lên tiếng lư giải chính đáng th́ họ lại lư sự rằng chúng tôi, ban chủ trương,  không nói như thế.  Điển h́nh như vụ nghị quyết “không chào đón” phái đoàn CSVN của thành phố Ga Đần Gô- Ca Li Fo Ni a. Nghị quyết chỉ là “không chào đón”. Nhưng trên nhiều báo chí, cửa miệng chống cộng biến thành “cấm CSVN lai văng”!!!

 

Điều này rơ ràng có âm mưu thủ đoạn bất chính. Một lối nhập nhằng ăn cắp niềm tin nhiệt huyết của đồng bào, đồng hương, mà chắc chắn sẽ một lần nữa đưa đến sự hụt hẫng chán nản như những cao trào khoa trương phục quốc đă trôi qua!

 

Một lần nữa những người chủ trương đă lợi dụng khuyết điểm vọng ngoại của người xa xứ để dùng h́nh ảnh “nưóc Mỹ, chính giới Mỹ” đóng ấn dấu công nhận “tính chính đáng” của lá cờ !!!  Với hy vọng “sự xác nhận tính chính đáng” này của Mỹ lan xa đến trong nưóc Việt nam!!! (Mỹ đă công nhận cơ đấy) Ôi cái thúng không thể úp đưọc con voi!!! Làm sao mà họ có thể đạt đưọc ư nguyện nhơ bẩn này bằng hư cấu bất chính như thế!

 

Họ đă chỉ v́ mục tiêu chính trị ngắn hạn trưóc mắt mà đă lợi dụng  ḷng nhiệt huyết cố quốc của người gốc Việt làm chuyện tai hại. Tai hại cho công cuộc dân chủ hóa đă đành mà tai hại trong hưóng dẫn ǵói trẻ ở hải ngoại,  vốn đă bất hạnh v́ thiếu thốn t́nh tự, hiểu biết về dân tộc tổ tiên, hiểu sai lạc về cận sử nưóc nhà. Hiểu sai về nỗi đau chung của dân tộc Việt Nam. Chẳng hạn như song song “bổ túc thêm râu” cho chiến dịch lá cờ và lằn ranh và để tạo thêm chân cho rắn bằng những hư chứng về lich sử lá cờ như bài viết của ông Sài nào đó đưọc đăng tải trên mạng liên-tín và đưọc các nhóm “chống cộng tố cộng”  sử dụng như “tài liệu chân lư cơ bản!”. Tôi cũng xin đưọc bàn vào đây đôi điều về những hư cấu ấu trĩ này.

 

Các quốc gia Á Châu theo Khổng Mạnh như Việt Nam, Trung Hoa, Hàn quốc…không có ư niệm về quốc kỳ trong thế kỷ 19. Các loại cờ được dùng là cờ điều quân, cờ của một đạo quân (chẳng hạn Bát kỳ của triều đ́nh Măn Thanh..-Việt kiều xem phim bộ Lộc đỉnh kư đă thuộc ḷng!!!), cờ của triều đại hay các viên chức lớn (hiệu kỳ, soái kỳ, lệnh kỳ)… Cho nên cái lá cờ “đầu tiên” Long Tinh (thật ra không phải là cờ đầu tiên trong chiều dài của các triều đại Việt Nam) chỉ là quân kỳ, soái kỳ hay trưóng kỳ mà các bạn mê phim bộ Hồng công Đài loan, Trung quốc v.v vẫn hay thấy trong các trận giáp chiến nhốn nháo a tầu phù!!! Chứ không phải vưong kỳ hay đế kỳ. V́ thựng cờ của Vua (Triều đại)  vẫn hay có lệ viết rơ chữ đĩnh đạc uy nghi , như cờ của vua Quang Trung Hoàng Đế khi tiến quân tái chiếm thành Thăng Long vào năm 1789. Chứ xếp Long Tinh vào hàng quốc kỳ th́ ……!!! (Không có chữ để diễn đạt năo trạng này!)

 

Đến cái “chứng cớ” lá cờ thứ hai “Đại Nam” th́ hết thuốc chữa!!! Dù cũng đă biết vận dụng lệ viết chữ vào cờ của thời quân chủ, nhưng lại tối dạ đến độ phỉ báng văn hoá tư tưởng tiền nhân!

 

Xă hội quân chủ nho giáo đặc biệt là triều Nguyễn trọng Hán văn và bắt chước Thanh Nho (không như Quang Trung Hoàng Đế, Ngài trọng chữ Nôm vá có tính dân tộc rất cao) th́ nếu là lá cờ của triều đại th́ ắt chữ phải viết một cách ngay thẳng mạnh dạn và rơ ràng minh bạch, chưa nói là bút pháp phải cực kỳ tinh xảo để viết lên đưọc sự đựng bệ hiên ngang, uy nghi, kỳ vĩ  của tinh thần tôn quân trọng quốc, tư thế của một vương quốc tự chủ. Chứ sao lại viết nguệch ngoạc, đă thiếu nét lại nghiêng ngả “chổng mông vào nhau “tục tĩu mất dạy” như thế? Các cụ  nhà ḿnh có sai điều ǵ th́ sai, chứ nhất định không có cái tinh thần thập tḥ bí ẩn, khuất tất trong việc quân quốc trọng sự; ngay cả khi viết cờ làm khởi nghĩa bí mật trong rừng. Không kể đến một điểm mà ngựi ngu dốt kém cỏi như tôi cũng biết các cụ ḿnh xưa  chữ Nho viết chữ từ phải qua trái, chứ không viết từ trái qua phải như bây giờ, nghĩa là lẽ ra ch  Nam phải ở bên trái -rồi chữ Đại ở bên phải  mới đúng cách cơ đấy !!!

 

Đó là chưa nói trong sáu (6) thư pháp (Triện, Lệ, Đại, Chân, Hành, Thảo) th́ cái chữ Đại Nam này cũng không ra con giáp nào cả! Nét bút lông cũng không phải, mà nét bút tre cũng không giống.. Nó có giống như lối khắc chữ, nhưng lại vụng về của một đứa trẻ con nghịch bẩn trong cái lối khắc mà tôi đă gặp nơi tấm khánh treo tại gác chuông ở chùa Quỳnh (Đông Triều) do các cán bộ văn hóa nhà nưóc CHXHCNVN làm ra bằng bột đá rẻ tiền để thế cho cái khánh thật đă bị Tây hay Tầu lấy mất! 

 

Thật ra các cụ ḿnh cũng có lối dùng ẩn ngữ rất tài t́nh trong thông tin, nhưng là dùng tâm ư hoặc chiết tự để trao đổi mật với nhau thôi chứ cũng chẳng bao giờ “ẩn” trong biểu tưọng đất nước hay vưong triều, vốn chủ đích tuyên dương rộng mở công khai cả. Các cụ ḿnh khinh cái lối ḅ sát thập tḥ trí trá. Bậc quân vương, người quân tử phải đựng đựng chính chính, uy vũ hiên ngang, đựng bệ chứ không nghiêng ngả chổng mông như phường tiểu nhân hèn hạ.

 

Mà hỏi lấy chứng cớ ở đâu th́ cũng chỉ là bảo của một thằng mũi lơ nào nó t́m đưọc (???!!!) mà lại ở một trang liên-tín cũng chẳng có h́nh chụp “khai quật” ǵ cả!!!  Ǵ̣i ạ! lại khai thác cái năo trạng mặc cảm tự ti, vọng ngoại: hễ cứ mũi lơ nói là đúng! Tôi ṃ vào cái trang này, đọc rồi mới xét cái lối xếp đặt hành văn mới nghi cái  thằng “Tây” đóng góp trong mục này ắt phải mũi tẹt và có cái năo trạng cờ vàng! Thôi không bàn nữa! phí cả giờ! Với những năo trạng như vậy th́ nay mai sợ rằng sẽ có sự “khai quật” t́m ra được “cờ vàng” đă có đưọc khắc bên trong trống đồng Ngọc Lũ mà lại đưọc trạm bằng vàng lá ṛng!!! 

 

Tóm lại, theo cách nói của cái cô ca sĩ cải  lương nhí nhảnh dễ thưong ǵ đó trong chương tŕnh nhạc do Nguyễn Ngọc Ngạn làm quản tṛ, th́ với lá “quốc kỳ” Đại Nam kiểu ấy th́ nhân dân Việt Nam, vua quan Việt Nam, hay Tầu Tây mũi lơ nh́n vào “hiểu chết liền!” 

 

Chưa hết, cái năo trạng “cờ vàng chính thống” đă gieo vào đầu ǵói trẻ hải ngoại một cách rất bệnh hoạn. Khi tôi c̣n lo việc riêng ở Mỹ, tôi có đến gặp hai đứa cháu từ Úc qua tham dự đại hội thế giới sinh viên Việt Nam tại quận Cam, nơi có cái tưọng đài “Mỹ Việt không nh́n mặt nhau” (Tượng hai người lính một to cao, một nhỏ thấp, mỗi người nh́n một hưóng- Tôi ngắm cái tưọng mà thấy đau buồn, v́ nh́n măi mà “hiểu chết liền!”) Tôi đưọc các cháu tặng một tuyển tập có các bài viết bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt. Tôi muốn rớt nưóc mắt! V́ khi nh́n cái h́nh b́a có vẽ cái lá cờ vàng ba sọc đỏ “quyện” vào với lá cờ Mỹ, nói cho đẹp mặt th́ như cặp nhân t́nh dị chủng, hay nói cho đúng th́ như một cô gái Việt Nam cần tiền  đang làm chuyện “hiểu sống liền” thựng thấy ở đất Mỹ! Chiều tối hôm ấy tôi chở hai cô cháu sinh viên và bạn của các cháu đi uống cà phê, tôi có đưa việc này ra trao đổi. Tôi có nói rằng giả như các anh chị em sinh viên Việt ở Pháp, ở Úc, ở Hàn, ở Nga v.v mà mỗi nơi vẽ cái cờ vàng ba soc đỏ quyện vào thắm thiết với các lá cờ mỗi nơi như vậy th́ hiểu như thế nào đây? Các cháu tôi lặng yên, c̣n tôi th́ thở dài!

 

Vấn đề không c̣n là “hiểu chết liền” nữa, mà hiểu là nhục liền! Cái lá cờ “di sản” mà họ trân quí ấy đă chỉ v́ óc tự ti vọng ngoại hàm ơn vô lối, họ đă biến nó thành h́nh ảnh một cô gái Việt Nam ở Đông Hà đứng đầu ghe tuột quần chỉ vào cái vốn giời cho để mời gọi lính đồng minh “hưởng thụ giao t́nh hữu nghị” mà nhà văn Phan Nhật Nam đă kể trong “Dấu Binh Lửa”[3]

 

Nếu vẽ như vậy chỉ v́ lá cờ là biểu tượng của người Mỹ gốc Việt th́ hiểu được (mà năo trạng đúng là như vậy thôi). Nhưng khi đă dám tuyên bố lá cờ lên hàng hải ngoại th́ không ổn nữa! V́ hải ngoại đâu chỉ có nghĩa là ở Mỹ! Và giả thiết rằng lá cờ là của “dân tộc” th́ lại càng khổ ải!!! Giời ạ..!!!

 

Có những điều ĐÚNG và CHÍNH ĐÁNG ở b́nh diện một CÁ NHÂN, một PHE NHÓM, một CỘNG ĐỒNG.. nhưng sẽ rất SAI, và mang tính ÁP ĐẶT, BẠO NGƯỢC, NHỤC MẠ,  nếu đem đặt ở phương diện cho cả quốc gia dân tộc.

 

Như tôi đă thưa trong lá thư thứ 6 viết gửi đồng bào ḿnh về lá cờ chính nghĩa( http://www.loive.00books.com/tailieu/guidongbao6.htm):

 

.. cá nhân mỗi chúng ta muốn mang ơn ai, ca ngợi ai, thánh hoá ai.. đó là quyền cuả mỗi người. Nhưng khi áp đặt rằng Nhân Dân Việt Nam mang ơn nhân dân Mỹ, Lính Mỹ trong cuộc chiến tương tàn vừa qua  th́ đó chính là thái độ áp đặt bạo ngược đi từ lề lối suy nghĩ phe phái riêng tư kém hiểu biết sâu xa về sự thật của bản chất bang giao quốc tế cũng như bản chất của cuộc chiến tương tàn VN.

 

Tôi chỉ xin các bạn trẻ Việt Nam trong ngoài hăy cẩn thận với mọi thông tin trong một t́nh trạng cô đọng một chiều như thể chế độc tài đảng trị ở trong nước, và thể-chế -độc-tài-chống-cộng-trị ở ngoài này. Xin đồng bào và các bạn trẻ hăy nhớ lời nhắc nhở của ông Trần Trọng Kim thuở trưóc:  

 

“…. Vậy mà ở xa nghe nói, tưởng là các ông ấy có tổ chức, có thế lực, kỳ thực chẳng có ǵ đáng kể. Cũng như là sau tôi thấy những người Cách Mệnh Việt Nam ta ở bên Tầu, nghe tuyên truyền th́ tưởng là họ có cơ sở chắc chắn, lúc biết rơ sự thực, thật là buồn. Tôi kể ra đây cốt để người ta biết rơ sự thực, đừng có nghe nhảm tin lầm…[4]

 

Bây giờ xin đưọc lạm bàn đến chiến dịch “vinh danh cờ vàng di sản của người Mỹ gốc Việt chân chính”. Thành thật mà nói, tôi hiểu và trân quí tấm ḷng cố quốc trong sáng và nhiệt tâm đơn giản của đồng bào ḿnh, dù họ bở bất cứ nơi nào cũng hưóng ḷng ḿnh về tổ quốc bên kia bờ đại dương. Chính mắt tôi đă thấy những đồng bào ḿnh ở quận Cam, đóng cửa hiệu để vác cờ lái xe 6-7 giờ đến tận Xăng Phăng Si Cô để vận động cờ vàng! Đó là chưa nói đến bỏ tiền túi đổ xăng ăn uống v.v

 

Ví như cao trào này chỉ tập trung mục tiêu, hay ít ra đưa thêm vào trong nghị quyết là các thành phố, tiều bang Mỹ chính thức lên tiếng ủng hộ tinh thần đấu tranh của người Mỹ gốc Việt cùng đồng bào trong nưóc trong tinh thần đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ và tự do của những chiến sĩ dân chủ; và lên án hành động vi phạm nhân quyền của CSVN đối với những người đang đấu tranh ôn ḥa cho giá trị căn bản của nhân loại. Như vậy nó lại rất phù hợp với tinh thần giá trị của hiến pháp Mỹ, như thế những nghị quyết này sẽ có  giá trị và sức đẩy trựng kỳ và ảnh huởng rất mạnh ngay ở chính trựng Mỹ đến tận trong nưóc Việt Nam.  Như vậy là ở hải ngoại đă đưa thêm một tảng đá vững chắc cho các chiến sĩ dân chủ tại Việt Nam đứng lên tranh đấu. Hơn thế nữa những nghị quyết như vậy sẽ thúc đẩy thêm sự hiểu biết về nhận thức tư duy trong ư niệm dân chủ nhân quyền tại Việt Nam. Các chiến sĩ dân chủ và đồng bào ḿnh đang đáu tranh trong nưóc khi đọc những nghị quyết có tinh thần xác quyết như vậy chắc sẽ ấm ḷng và trân rọng tấm ḷng của đồng bào xa xứ mà vẫn không quên đất nưóc. Họ sẽ vững ḷng hơn trong đấu tranh hiểm nguy v́ họ biết  sau lưng họ là những cánh tay thật dài của đồng bào khắp nơi đang chống lưng cho họ..

 

Nhưng thật là buồn, và quá phí phạm! Những tấm ḷng nhiệt thành ấy, công sức hy sinh ấy chỉ  đạt đưọc sự thừa nhận “lá cờ di sản” của người di tản trên đất Mỹ! Chính khách Mỹ mua phiếu người gốc Việt rẻ quá!

 

Không hiểu khi đọc và hiểu đưọc tinh thần nghị quyết thật sự đă kư kết để vinh danh di sản cờ vàng của những Mỹ gốc Việt đến từ miền Nam Việt Nam, các chiến sĩ dân chủ có thấy bơ vơ buồn bă hay không? Tôi chắc là không thấy bơ vơ, v́ anh chị em dân chủ trong nưóc đă và đang có 80 triệu đồng bào! C̣n buồn th́ tôi chắc có tí chút, v́ dẫu sao, dù không nặng nề, nhưng mục tiêu chính đáng cao cả v́ dân chủ tự do đă bị lạm dụng một cách thập tḥ buồn cựi!

 

Quả thật, khi trong nưóc đồng bào đang cùng các chiến sĩ dân chủ chân chính như Hoà Thưọng Huyền Quang, Thưọng Toạ Quảng Độ, Lm Nguyễn Văn Lư, Lm Nguyễn Hữu Giải, Trần Khuê, Phạm Quế Dưong, Nguyễn Khắc Toàn, Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ B́nh v.v đang đem chính thân xác họ, sự an nguy của gia đ́nh họ để đấu tranh dân chủ tự do, th́ ở ngoài này, cũng nhân danh tự do dân chủ, năo trạng cờ vàng của những nhóm chống cộng v́ hận thù quá khứ đă  biến lá cờ vàng thành bức tựng ngăn chia cách biệt giữa những người Việt Nam với nhau. Nó không c̣n đơn thuần là biểu tượng nữa, mà là hố ngăn cách, vũ khí khủng bố tinh thần, và vũ khí trấn áp bịp miệng tự do ngôn luận. Như vậy nó đă trở thành gánh nặng cản trở sự đoàn kết dân tộc cần thiết, ít nhất là ở bên ngoài đất nưóc Việt Nam, để ḥa ḿnh vào với đồng bào trong nưóc trong tiến tŕnh đấu tranh dân chủ hóa hôm nay và xây dựng dân chủ phát triển đất nưóc trong tương lai.

 

 

(C̣n tiếp) Tính xấc láo, tối dạ  nhỏ hẹp của phong trào xác định lằn ranh quốc cộng.

 

 

(c̣n tiếp)

 



[1] Trần Trọng Kim, “Một Cơn Gió Bụi” Vĩnh Sơn 1969, tr60-61

[2] Vietnam Airborne-OSPREY ELITE SERIES n#29, OSPREY Publishing-London

[3] Phan Nhật Nam, Dấu Binh Lửa, Đại Ngă, 1974

[4] Trần Trọng Kim, “Một Cơn Gió Bụi” Vĩnh Sơn 1969, tr 36.