Những Vấn Nạn Nho Nhỏ của Ðồng Bào Tôi..
Thân tặng cháu Nguyễn Toàn Thắng, người đã vẽ chân dung tôi, và các cháu SV Hà Nội mà tôi đã một lần hạnh ngộ, Cùng thân tặng cháu Khang Thái ở Pháp .

Dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc bất hạnh nhất trên cõi đời này. Một dân tộc có đầy đủ mọi yếu tố cường thịnh từ lãnh thổ tài nguyên cho đến nhân văn; và đã đổ ra quá nhiều mồ hôi, nước mắt và máu xương, để cuối cùng chẳng được gì ngoài tấm thân tàn, lủi thủi không quyền hạn, nhân phẩm, ngửa tay sống bằng lòng từ tâm của thế giới. Tôi là một người Việt Nam, dù muốn hay không, Tôi vẫn buộc phải cưu mang những nỗi bất hạnh ấy. Những bất hạnh có cái to, cái nhỏ, có những cái tiêu cực, có những cái tích cực; có những cái chia sẻ cùng nhân loại, có những cái một mình giòng máu Việt phải cưu mang cô độc. Có những nỗi bất hạnh có thể hoá giải được từ vị trí cá nhân, có những nỗi bất hạnh cả dân tộc phải cùng hoá giải. Có những bất hạnh đã trở thành kỷ niệm, chĩu nặng trong Việt Sử, có những bất hạnh nối dài trong hệ quả cưu mang trở thành vấn nạn hiện tại. Tôi biết khởi từ đâu bây giờ? Thôi thì cứ đi từ cái nhỏ, theo sức lực hạn hẹp của mình.

Vấn nạn nho nhỏ đầu tiên là quán tính tư duy. Nói "Quán Tính Tư Duy", là nói đến cái nếp đã ăn hằn trong não trạng, lề lối suy nghĩ. Nó do tập nhiễm, do thói quen nọa tính, mà không có lập luận; nó có thể do nhồi sọ qua phương tiện khủng bố tinh thần toàn diện và trường kỳ như đã và đang diễn ra trên đất nước Việt Nam; nó cũng có thể do hèn hạ, ích kỷ, và tham lam như đang thấy cả ở trong lẫn ngoài nước. Chính vì như vậy, mà một trong những hệ quả, là nó đẻ ra cái ngộ nhận về khoa bảng. Từ ngộ nhận giá trị khoa bảng, nó đưa đến sự trọng vọng thái quá cái khoa bảng, quan quyền... khiến chính những người khoa bảng ngộ nhận về chính mình! Ðó là ngộ nhận giữa biết nhiều, và hiểu nhiều, giữa kiến thức và trí tuệ. Vấn nạn này hình như là của chung nhân loại. Krisnamurti, cách đây mấy chục năm trong lần nói chuyện ở Ðại Học BRANDEIS UNIVERSITY đã nhận định về vấn nạn này như sau:

In this world the apogee of intellect is to be very clever, very smart, very complex, very erudite. I do not know why people carry erudition in their brain - why not leave it on the library shelf? The computers are very erudite. Erudition has nothing whatsoever to do with intelligence. (J.Krisnamurti, You are the world, Perennial Library, Harper & Row, p 27)
Ðối với thế giới này, đỉnh cao của trí tuệ là phải rất lanh lợi, phải rất sang, phải rất phức tạp, biết rất nhiều. Tôi không hiểu tại sao người ta lại cưu mang sụ biết nhiều trong bộ não của họ- Tại sao không để nó ở những ngăn sách trong thư viện? Những cái máy điện toán rất là thông thái, biết nhiều!!! Sự biết nhiều, thông thái, chẳng dính dáng cái gì đến sự thông minh, trí tuệ cả."
Vậy thông minh trí tuệ là gì? Ðức Phật thuở còn non trẻ, "bị" nuôi dưỡng, giáo dục trong môi trưòng bưng bít, cách ly của hoàng cung. Ngài không "được" học những chuyên môn lý giải. Nhưng sự nhận thức và trí tuệ của Ngài đã khiến ngài đặt câu hỏi đến những sự kiện xảy ra thường nhật, trước mắt mọi con người: Tứ diệu đế, Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Và từ những cái thấy đó, Ngài đã dùng trí tuệ để lập luận, kiến giải, rồi thể nghiệm và ngộ đạo. Trong khi hàng tỉ con người cứ sống cùng với những cái biết căn bản về sinh lão bệnh tử mà không có nhận thức chi cả.

Câu chuyện "Ðáo bỉ ngạn" đã nói lên rõ ràng sự khác biệt giữa Trí Tuệ, Kiến Thức và Kỹ Năng.

-Một ngày kia, Ðức Phật được các đệ tử, những đệ tử vốn đã nghi ngờ "khả năng" Ngài, dẫn dắt "vô tình" đến chạm trán một nhà Fakir đang đong đưa ngồi nhập định trên một cành cây bé nhỏ. Ông Fakir này có kiến thức và kỹ năng pháp thuật rất cao, Chúng đệ tử ngầm thác thức Ngài, nên hết lời tán tụng kiến thức và kỹ năng ông Fakir này. Ðức Phật, biết ý, Ngài ôn tồn hỏi rằng Ông Fakir còn có khả năng gì đặc biệt hơn nữa. Ông Fakir nói còn có thể chỉ dùng một nhánh cây và vượt sông. Thế rồi Ông Fakir trổ tài vượt sông và quay lại chỉ bằng đứng trên một cành cây nhỏ. Ông Fakir cho biết đã khổ công luyện tập công phu này 40 năm! Chúng đệ tử nhìn Ngài, ái ngại và thích chí. Ðức Phật lại ôn tồn dắt mọi người đến một anh lái đò, và nhờ anh lái đò, với nắm bạc lẻ, đưa tất cả cùng qua sông rồi trở lại. Xong Ngài "nhận xét" rằng: Ông Fakir đã bỏ ra 40 năm để chỉ qua sông một mình, còn Ngài chỉ nhờ con đò mà cùng đưa mọi người qua sông. Nhưng qua sông để rồi làm gì? Nhận xét của Ngài làm mọi người chưng hửng!

Câu chuyện "dụ ngôn" này có nhiều ẩn nghĩa, như về Cứu Cánh và phương tiện v.v nhưng cái rõ ràng nhất là cái nọa tính của đa số, là nhìn nhưng không thấy, nhận biết nhưng không hiểu. Chỉ ham mê tom góp những điều biết, những kỹ năng khổ tập, để tranh thủ lòng tin của thiên hạ.Trí Tuệ của Ðức Phật là ở chỗ này.

-Quả Táo rơi thì ai cũng "Biết", nhưng với Newton thì trí tuệ đã cho Ông hiểu nguyên cơ của sự việc quả táo rơi. Nằm trong nước bị đẩy nổi ai cũng Biết, nhưng với Archimède, thì trí tuệ đã cho Ông nhận thức và hiểu được nguyên nhân kết quả của lưc đẩy và hút. Trí Tuệ cho con người sự thắc mắc, lập luận và lý giải xa hơn cái Biết. Các cụ nhà mình vẫn nói đơn giản là Học một hiểu mười, nhìn một thấy trăm.

Ðấy, vấn nạn chung của chúng ta là ở chỗ Não trạng con người chúng ta dường như đã trở thành những cái máy điện toán... Biết rất nhiều, tom góp lưu trữ rất nhiều chi tiết, xả ra, biểu hiện ra rất nhanh, rát kiểu cách, như Kristnamurti nhận xét. Nhưng nguy hiểm hơn, thường những cái biết ấy lại được xả ra theo "hiệu lệnh" của người sử dụng.. Ðến khi không nhận được hiệu lệnh của chủ, thì đâm ra chạy loạn xạ theo những cái "biết tồn đọng, được cài đặt sẵn trong bộ nhớ". Bạn đọc không tin tôi ư! và cho rằng tôi khinh người khoa bảng quá mức nói lấy được không sở cứ ư? Thế những Trí Thức Khoa Bảng gia cắm đầu phục vụ quyền lực, thế lưc, chính trị, kinh tế hay tôn giáo, là cái gì? Krisnamurti không phải tự nhiên "khinh thị" cái "đỉnh cao trí tuệ" của người đương thời!

Hãy cứ lấy câu chuyện mà ai cũng biết về nhân vật Spartacus, mà các chế độ Cộng Sản đã "thánh hoá", và sử dụng như một biểu tượng kỳ công của đấu tranh gia cấp: Nô Lệ và Chủ Nhân Ông. Thiên hạ đã lắm người nghe, nhìn rồi tin, nhưng không mấy ai dùng trí tuệ để, truy cứu, lập luận, và hiểu câu chuyện này. Câu chuyện này còn được lãng mạn hoá, thêu dệt bởi các nhà làm phim của Hồ Ly Vọng, khiến nhiều người trầm trồ, cảm động, ngộ nhận sau ra khỏi rạp. Thực tế như thế nào?

Spartacus là một tên nô lệ, được bán làm giác đấu của triều đình La Mã. Spartacus sinh ra tại thành Thrace. Theo truyền thuyết thì Spartacus trước đó là một sĩ quan, hay binh sĩ của quân đội chính quy La Mã, Spartacus đào ngũ, rồi bị bắt và bị bán làm nộ lệ và xung vào đội Giác Ðấu của một viên chuyên huấn luyện những giác đấu ở Capua. Chúng ta nên chú ý là thời trung cổ La Mã, nô lệ không chỉ có nghĩa là kỳ thị màu da, mà là gồm cả những kẻ phạm tội mất quyền nữa. Vào năm 73 trước Tây Lịch, Spartacus đào thoát với những tên giác đấu khác và trốn cứ ở vùng núi Vesuvius. Nơi đây Spatacus tập trung được một số các nô lệ đã đào thoát chủ nhân của họ. Nhờ vào kỹ năng và kinh nghiệm trong quân dội La Mã, Spatacus trở thành lãnh tụ của đám người này, và khởi loạn chống lại La Mã. Cuộc khởi loạn này sử Tây gọi là cuộc chiến của người Nô Lệ (Servile War) hay Cuộc chiến của ngưòi Giác Ðấu (Gladiators' war). Khởi đầu lực lượng của Spatacus rất mạnh và đánh bại hai đội binh của La Mã, một phần nhờ vào sự chia rẽ, tranh quyền lực nơi binh đội đế quốc La Mã bấy giò. Lực lượng Spartacus càn quét vượt khắp miền Nam nước Ý. Một năm sau, 72 trưóc Tây Lịch, quân nô lệ của Spartacus đánh bại thêm ba binh đoàn La Mã khác, và tiến đến Cisalpine Gaul, ở đây Spartacus có lẽ vì mệt mỏi, và nhất là vì không có nhận thức ,hiểu biết gì về đấu tranh thay đổi chính trị xã hội v.v Nghĩa là không có chử trương định hưóng gì cả! Spartacus dự định giải tán binh đội nô lệ và trả tất cả về nhà sống bình thường. Nhưng cuối cùng, có lẽ vì không biết về nhà để làm gì sinh sống, không định hướng, tất cả quyết định ở lại Ý tổ chức đi cướp của phá làng. Binh đội của Spartacus một lần nữa tiến chiếm phiá Nam. Ðược một năm thì Tướng La Mã, Marcus Licinius Crassus đẩy lui được, và khép chặt vòng vây lực lượng ô hợp của Spatacus vào bán đảo Rhegium, nhưng đội binh Spartacus cũng trốn thoát được khi phá vòng vây của quân La Mã. Nhưng Marcus Licinius Crassus truy đuổi quân giác đấu đến Lucania và tiêu diệt toàn bộ cuộc nổi loạn này tại đây. Trái với tình tiết thêu dệt của các chế độ Cộng Sản và lãng mạn của phim ảnh Hồ Ly Vọng, là Spartacus bị bắt với những thái độ, lời nói anh hùng bất khuất v.v, Spartacus chết trong cuộc hỗn chiến này. Chỉ có các nô lệ và giác đấu bị bắt sống, là bị treo vào thập giá cho đến chết. Một số tàn quân giác đấu và nô lệ chạy ngược lên phía Bắc thì bị Pompey, một tướng lãnh nổi tiếng (Pompey the Great) con rể và là đồng minh, sau này là đối thủ quyền lực của Julius Caesar, chặn và tiêu diệt trên đường khải hoàn từ Tây Ban Nha.

Câu chuyện "bi hùng" chỉ có thế! Nó không mang một chủ định đấu tranh giải phóng xã hội, hay ý nghĩa cao đẹp nhân bản nào, ngoài sự nổi loạn của kẻ bị áp chế, rồi lại càn quét cướp giựt người khác để thoả mãn lòng căm tức. Có lẽ chính vì như thế, mà tất cả các chế độ Cộng Sản đều mang đặc tính của "Thần Tượng" này của họ, nghĩa là nổi loạn cướp chính quyền vì căm tức, đầy bạo loạn và ngu tối; đó là chỉ phá nát, ăn cướp bóc lột quần chúng bằng vũ lực càn loạn mà không có trí tuệ. Tuy nhiên phải nhấn mạnh là người Cộng Sản hiện đại đã đi xa hơn thần tượng Spartacus, là đã không chỉ tàn phá vật chất kinh tế, đền đài, xã hội, mà còn hủy hoại, phá tán văn hoá, tính nhân bản của con người như đã và đang xảy ra.

Cái biết và cái hiểu, kiến thức và trí tuệ, nó cách xa rõ ràng như thế. Mà thật ra có khó khăn gì đâu! Chỉ cần một tí động não, truy cứu lý giải là rõ ràng ngay.

Ta thấy vấn nạn ngộ nhận giữa kiến thức và trí tuệ còn đưa đến, và là hệ quả của tính vọng ngoại nữa! Nếu muốn nói đến tranh đấu của những người bị áp bức muốn thay đổi xã hội, ở Việt Nam ta có Cao Bá Quát. Cái bất hạnh là những sử tích nước nhà đã không được tiểu thuyết hoá một cách chi tiết như của Tầu, của Tây, và không được lên màn bạc, cho nên hình như nó nhỏ, ngắn củn và phảng phất trong lòng người Việt! Chứ nếu sự kiện lịch sử của cuộc khởi nghĩa ở Mỹ Lương được viết chi tiết, thì chắc chắn nó là cả một thiên anh hùng ca tranh dấu chống áp bức xã hội, vơí những câu đối thoại ngang tàng bất khuất thật sự của Ông Cao. Ðó là chưa nói đến kỳ tích khởi nghĩa của anh hùng Áo Vải Tây Sơn, Hồ Thơm! Còn chống ngoại thuộc thì đầy dẫy những Bà Triệu, Bà Trưng, Bà Tâm, Bà Giang, bà Bắc v.v Nếu không có óc vọng ngọai, thuộc lòng sách Tầu, truyện Tầu, sách Tây, truyện Tây, thì tất cả những "nho nhỏ, cụt ngủn" này sẽ được viết chi tiết đầy đủ như truyện, rồi lên phim, thì Tôi dám đoan quyết tất cả những "thiên hùng ca hàng ngoại" kia chỉ còn là những bóng mờ, không những với người Việt mà sẽ còn làm kinh ngạc cho cả thế giới!

Cái quán tính tư duy, ngộ nhận ấy nó đưa đến cố tật thích trích dẫn cho nhiều, đặc biệt là "hàng ngoại càng tốt", tư tưởng chính trị, học thuật quân sự v.v không thấy mấy ai trích dẫn "binh thư yếu lược" của đức thánh Trần, "quân trung từ mệnh tập" của cụ Ức Trai...

Hệ quả kinh khủng là giới trẻ, những người đi du học từ ngày còn non trẻ, không được học hỏi đầy đủ về chính dân tộc mình, họ học về lịch sử và xã hội của người, và họ xem như những vấn đề quá khứ vị lai của xã hội sở tại họ sống, những bài bản, phân tích họ học ở trường Tây, đều cũng giống, xảy ra như ở các nơi khác, và Việt Nam cũng phải như thế....Thí dụ như họ xiển dương Nam Nữ bình quyền, họ ca ngợi nước Úc, nước Mỹ, nuớc Pháp, giải phóng phụ nữ, cho phụ nữ quyền đi bầu cử v.v Ðến khi về thăm quê huơng, họ nhìn đồng bào họ như những người tiền sử...Mà không biết rằng từ ngày có ý niệm Dân Chủ bầu cử, ở Việt Nam, dù là thứ "Dân Chủ hờ", có ai cấm phụ nữ đi bầu bao giờ? Vì không có phân biệt đối xử, áp bức, cho nên không có, không cần "giải phóng, làm luật thừa nhận nữ quyền", chứ không phải không có và không bằng Tây!!! Ðó là chưa nói đến cái quyền của phụ nữ Việt Nam nó đã có thật, và rất lớn, từ ngàn xưa cơ đấy!

Những người Cộng Sản học mót của Nga, của Trung Cộng những lý thuyết, giải pháp đi từ vấn nạn của Nga, cuả Tầu , của Tây, và họ nghĩ rằng Việt Nam cũng phải có những thứ vấn nạn ấy, nhu cầu ấy. Họ quên hết, xoá hết dấu tích, truyền thống bình đẳng của Lạc Việt. Và họ buộc "cái giải phóng giai cấp" vào cho nhân dân Việt Thường này. Họ tối dạ đến nỗi đưa cái chủ thuyết XHCN, CSCN vốn là hệ quả của xã hội phương Tây về đè lên đầu người Vìệt và bắt nhân dân Việt nuốt chửng.. Và hệ quả là bây giờ, sau hơn 70 năm cả Dân Tộc mắc nghẹn! Mắc nghẹn ở trong nước chưa đủ, những người đã ra đi vẫn còn mắc nghẹn, và ọc oẹ trợn mắt mỗi khi gặp nhau, nhìn nhau! Hồ Chí Minh là một tên tối dạ nhất trong Việt sử, tối dạ hơn Diệm , Thiệu ngàn lần. Vì chế độ Diệm, Thiệu chỉ làm tay sai nhưng không chủ trương, không thi hành chính sách xóa nát văn hóa nhân tính Việt như Hồ và Ðảng CSVN, vừa làm tay sai cho Chủ Nghĩa CS, Liên Xô, Tầu, vừa chủ trưong thi hành chính sách xóa nát văn hóa, nhân tính Việt. Bởi thế cả đất Bắc, đất ngàn năm văn vật, gốc rễ của dân tộc Việt, mà không có lấy một tượng anh hùng tiền nhân (dù trên tinh thần Văn Hoá Việt có lẽ không cần), mà chỉ có trơ ra cái tượng Lê Nin! Quốc hội của nhân dân Việt Nam, hình ảnh Quốc Tổ, anh hùng , anh thư dân tộc không thấy, chỉ có ba cái mặt mẹt trơ trẽn thô bỉ của Mác, Lê to tướng!!! Nô dịch ngoại lai mọi mặt! Công đức của chúng nó, những tên ngoại tộc lạ lùng này, với dân tộc Việt như thế nào mà được "vinh dự" như vậy? Máu xương trải dài 5 ngàn năm của các cụ Tiên Tổ từ cụ Hùng Vương đến bây giờ ở đâu?

Ở trong Nam VNCH, thì vợ Ngô Ðình Nhu, hô hào giải phóng phụ nữ theo kiểu Tây, kiểu Gia Tô (nhưng không Gia Tô, mà phản Gia Tô).

Tôi xin được kể một chuyện rất buồn cười ngày Tôi còn lang thang với đám khoa bảng Úc. Nơi tôi học có bà Giáo Sư Úc, Stephany Phahey, chuyên gia Việt nam (VietNam Expert), bà là trưởng ban nghiên cứu chính trị Ðông Nam Á. ( hiện đang là đương kim giám đốc trung tâm Nghiên Cứu Á Châu Thái Bình Dương tại Sydney-2001), Bà thuyết trình về ViệtNam, phụ nữ ViệtNam, Tôi ngồi cứ nhìn ra cửa sổ! Sau cuộc thuyết trình,bà hỏi tôi nghĩ gì về những "hiểu biết" của Bà. Tôi cười trả lời rằng thì cũng như kiến thức hiều biết của Tôi về nưóc Úc khi thuyết trình cho người Úc vậy thôi! Ðưọc cái bà này "tử tế, biết điều" Bà ta nói "lẽ ra Anh phải đáng được gọi là chuyên gia Úc (Australia Expert) mới đúng hơn là tôi là chuyên gia Vietnam, vì Anh nói được ngôn ngữ Úc, lại ở Úc lâu, có "học hỏi, nghiên cứu trực tiếp", còn tôi không biết tiếng Việt, chỉ đọc sách, và ghé thăm VietNam ngắn hạn!" Sau đó bà kể cho Tôi nghe về sự việc nhà văn Dương Thu Hương, với các tác phẩm như Thiên Ðường Mù, Bên Kia Bờ Ả Vọng v.v thái độ có vẻ ca ngợi chế độ CSVN đã tạo ra những đàn bà như thế!!! Và bà cảm thấy xấu hổ, hẫng chân khi ở VietNam bà đã "cố gắng định dạy" phụ nữ Viet Nam về nữ quyền, bình đẳng v.v Vì nhận ra rằng đàn bà Việt Nam không bị đàn áp, coi thường như đàn bà Tây!!! Tôi cũng vẫn cứ cười và trả lời rằng Bà Dương Thu Hương chỉ là một phần nhỏ của phụ nữ VietNam, nếu bà biết thêm về những người đàn bà trong suốt 5 ngàn năm lịch sử Viêt Nam khởi đầu là bà Âu Cơ! Còn CSVN hay chế độ Diệm của miền Nam chỉ là nhại lại cái tồi nhất của phương Tây một cách vờ vĩnh mà thôi! Thế mà bà ta cười rạng rỡ , thân mật, rồi nói ngắn gọn trả lời "Ðược rồi! Anh thắng (OK! You win!) - [ Tôi yêu quí sự thẳng thắn trọng lý lẽ của đa số trí thức Tây Phương là vì thế].

Chưa hết, tính vọng ngoại nó đã trở thành vấn nạn lớn cho nhân dân Việt Nam- Hôm nay người Việt dù đi khắp năm châu họ vẫn dẫn dắt theo "niềm tự hào, lòng biết ơn quốc gia sở tại", cùng những liên hệ quá khứ với họ để "đối thoại" với nhau. Ngay bây giờ.... Nào Nga, nào Ba Lan, nào Tiệp, nào Trung Quốc v.v và v.v Những "thứ này" không thể xấu được, vì nó đã là một phần đời của họ, phe của họ; Và vì thế, đối với đa số những người miền Bắc đi lao động hợp tác (làm thuê trả nợ chiến tranh), hoặc du học ở các nước Cộng sản Ðông Âu cũ: Nga, Tiệp, Ba Lan, Bun, Ðông Ðức cũ vẫn cứ "gần cận" họ hơn những đồng bào ra đi từ miền Nam. Ngược lại, với đa số những người ra đi từ miền Nam, thì Mỹ Anh, Úc, Pháp v.v cứ gần cận dễ thương hơn đồng bào của mình!!! -Cả hai bên đồng bào của nhau, họ đem những dĩ vãng nô lệ, quá khứ tay sai, vay mượn của những thằng, những con ở đâu đâu để tranh thủ với nhau, chứng tỏ "chính nghĩa" với nhau..!!! Cứ nhìn cảnh người Việt tha hương ở Âu Châu, nhất là Ðông Âu đối xử với nhau thì thấy rõ! Họ chia rẽ nhau và nhìn nhau như những giống dân khác lạ. Chẳng hạn: cùng là dân lao động ở Ðức và các nuớc Ðông Âu với nhau thôi, nhưng khi buộc phải kiếm sống bằng việc bán thuốc lá lậu và áo quần ở những tỉnh thành Ðông Ðức cũ, thì họ đã tranh giành nhau thị trường, rồi đâm chém nhau, giết chóc nhau. Thậm chí, khi cánh con cháu đảng viên từ Nghệ Tĩnh, Quảng Bình kéo sang Ðức, lập thành băng đảng, rồi dựng chiêu bài cứu trợ đồng hương, nhưng khi đánh thắng các băng "bộ đội" Bắc, thì cánh quê "Bác" lại quay ngoắt lại đánh thuế và giết luôn những người mà trước đấy chúng hô to khẩu hiệu "cứu khổn phò nguy". Hay, giữa những người "tinh hoa hơn" một chút, là những người xưng danh "Người Việt Ðông Âu" làm báo chính trị ở Ðức để chống đảng CSVN đòi tự do dân chủ cho VN, nhưng thực ra cũng chỉ để có quyền tị nạn và định cư ở Cộng hoà Liên bang Ðức, rồi thì họ cũng bỏ lửng khẩu hiệu. Cá biệt, có số ít còn có những hoạt động trái ngược với khẩu hiệu với chiêu bài đã dựng lên khi ra báo. Ðổi lại, ngay cả khối người tị nạn (thuyền nhân) cũ ở Ðức cũng chia rẽ với khối Ðông Âu. Chính từ đó mà có những chuyện đau lòng đến độ họ cưu mang những kẻ đã vấy máu đồng bào họ, đất nước họ, để chống nhau, để phân bua với nhau! Ðể chứng tỏ Tôi Việt Nam hơn Anh, hơn Chị !!!

Cái quán tính tư duy không trí tuệ ấy, nó đẻ ra tinh thần vọng ngoại, lòng nhớ ơn đồng chí, đồng minh ngàn đời một cách mù quáng. Nó mù quáng đến độ đa số những người ra đi ở miền Bắc vẫn ôm khư khư cái tính "Cộng" quá khứ của mình dù ngay cả nhân dân của đất nưóc sở tại, nơi họ sinh sống cũng đã vất bỏ!!! Nhìn cảnh phân chia "ý hệ" của người Việt ở một nước Ðức thống nhất tự do dân chủ, tư bản , thì cười ra nước mắt! Khốn nạn thay cho cái quán tính tư duy!

-Ngày Putin thăm Việt Nam, có cả một hội những người có dĩ vãng khoa bảng, dĩ vãng lao công Xô Viết xếp hàng bắt tay tỏ lòng tôi tớ, công ơn ngàn đời dạy dỗ của Liên Xô.

-Nhìn cảnh những người lính chiến, hay có liên hệ vói VNCH, xếp hàng nộp đơn đi HO làm công dân tương lai của Mỹ, ở một đất nước "độc lập,thống nhất, tự do, no ấm" mà đau lòng! Dẫu biết chế độ Việt Cộng không cho họ con đưòng nào khác để chọn lựa! Tôi biết có những cay đắng trong lòng họ, ít nhất là khi đọc lại những ghi chú của một số sĩ quan Hải Quân VNCH về trận đánh cuối cùng bảo vệ lãnh thổ của Tổ Tiên tại Hoàng Sa năm 1974. Họ đã nhận ra họ bị trói tay bán đứng. Tệ hại hơn, tình người cũng bị hy sinh cho quyền lợi quốc gia, khi họ phải bì bõm bơi, kêu cứu, chết ngộp giữa biển đông trong lúc "đồng minh thân cận tự do nhân bản" lặng lẽ đứng nhìn.

-Như vậy cái quán tính tư duy nô lệ cũng còn khởi đi từ tự ái cá nhân, bảo thủ quá khứ vàng son liên hệ giây dưa: "Tôi không thể vạch ra, nhìn nhận cái tồi bại chỉ vì nó chất chứa một thời say mê của tôi. Tôi không thể quay vòng 180 độ để nhìn lại toàn bộ quá khứ liên đới, chỉ vì quá khứ liên đới ấy là một khoảng trời, khoảng đời tự hào, dẫu sự thật có thế nào. Tôi không thể bôi gio trát chấu vào những gì tôi đã tôn thờ, Tôi không thể để mọi người thấy cái lầm lẫn của Tôi dẫu là lầm lẫn vì chân tình, thiện chí. Tôi sẽ cảm thấy hụt hẫng vì nền tảng giá trị hiện hữu của tôi nó nằm cả ở đấy. Nó là cái "nghĩa cũ càng"của Tôi với quá khứ, phe nhóm, đảng phái của Tôi !!! "

-Chẳng mấy ai đủ thông minh, trí tuệ, vất những thứ quỉ ấy đi để gặp nhau trần truồng là một thằng, một con Việt Nam, để nói với nhau bằng nỗi vinh nhục Viêt Nam, nỗi đau Việt Nam, tình anh chị em Việt Nam.. Ðể giữ cái Nghĩa với cả Dân Tộc này, Ðất Nước này!Ðây mới thật là nền tảng giá trị hiện hữu, tồn tại của chúng ta. Ðó là tính Nhân Chủ Duy Việt. Nhân, Thần, Vật: Con người , lòng yêu quí con người là trọng, là chủ; Công Ơn tổ tiên, quyền lợi, danh dự Việt là hưóng tiến! Cái Nghĩa vói Dân Tộc và Ðất Nước!Nó là tất cả của người Việt Nam. Nó nằm ở tận đáy lòng, chìm đắm trong tâm tư của con người Việt qua bao năm tháng bị bao phủ bời phong kiến, thực dân, cộng sản. Gạt bỏ tất cả những đám rác rưởi ấy, cái Nhân Chủ Duy Việt sẽ vượt nổi lên đỉnh tư duy của con người Việt. Nó sẽ là mối thân ái, liều thuốc hoá giải oan khiên chia cắt mà Ðảng Hồ Chí Minh , CSVN ,thế lực ngoại bang đã cài đặt vào đất nước, não trạng Việt Nam.

Tôi xin được chấm hết những lời tản mạn này, bằng cách dài dòng kể lại một câu chuyện của Tôi và các cháu Sinh Viên Hà Nội. Trước ngày phải quay trở lại Úc. Các cháu cùng Tôi họp mặt tại một quán cà phê quen, khoảng trên dưới 15 cô cậu. Các cháu nói cười , đùa nghịch vui vẻ. Bỗng một cậu Sinh Viên hỏi tôi rằng trong các nhân vật "nổi tiếng thế gìới, tư tưởng thế gìới" , tôi ảnh hưởng ai, và duy cái gì? Tôi chậm rãi, thở dài rồi đáp : "Chú không trả lời được, nhưng chú chỉ xin kể một câu chuyện để thay câu trả lời." Và tôi kể lại câu chuyện thiền tôi đã đọc ở đâu đó, có thể độc giả sẽ nhớ rõ tên tuổi gốc tích câu chuyện hơn tôi, nhưng tối cứ kể, nó như thế này:

-Có một nhà học giả, biện giả thông thái kia, nghe tiếng một thiền sư đã lâu, nên ông muốn đến hội kiến để "thư hùng" một chuyến. Thế là ông học giả, biện giả thông thái lặn lội đến am của nhà thiền sư nọ trong lúc trời vừa sáng. Khi ông chỉ mới vừa đến cổng ngoài, ông đã nghe tiếng của vị thiền sư vọng ra:
-Sao Ông đến nói chuyện với Tôi mà không đến một mình, lại rủ theo nhiều người thế?
Ông học giả giật mình, rồi dáo dác nhìn quanh.... Ông chẳng thấy ai, vẫn chỉ có mình Ông! Sao thiền sư lại bảo Ông rủ theo nhiều người! Bất ngờ... nhà biện giả thông thái hiểu ra, vái tạ, rồi lui bước quay về.
-Khi tôi chấm dứt câu chuyện như thế, không giải thích gì cả , mà chỉ hút thuốc quay qua nói đùa vui với các sinh viên bên cạnh. Cậu sinh viên kiến trúc xuât sắc nhất khoá (bây giờ đã là kiến trúc sư) lên tiếng cùng mọi ngưòi trong bàn:
-Phải chi nhà biện giả thông thái ấy trước khi đến gặp thiền sư mà say khướt thì đã không bị nghe "chửi" như thế!
Tôi không chắc là các cô cậu trong bàn có hiểu gì không, nhưng chắc chắn cậu sinh viên này đã hiểu, theo cách diễn đạt của cậu. Ðây là lúc hạnh phúc và vui nhất của Tôi trong ba lần về Hà Nội, vì tôi đã thấy loé lên tia hy vọng, là thế hệ trẻ Việt Nam sẽ tránh được sự tăm tối u mê của thế hệ cha anh, không rủ rê thêm những đứa bá vơ, thằng Tây, con Tầu ở đâu đâu theo về để đối thoại với nhau, đồng bào của nhau, dẫu là để chì chiết, hay nói lời yêu dấu.

Ngày 28-Tháng 10-Năm Tân Tỵ (12-12-2001)
Nguyên Khả Phạm Thanh Chương.

Make your own free website on Tripod.com